tiểu luận về nền văn minh trung quốc
Nói như vậy là không biết rằng: cùng lúc với thời Hôn Ám ở Âu Châu, một nền văn hoá rực rỡ huy hoàng của nhân loại đang xảy ra dưới đời Đường tại Trung Quốc, và quyển sách đầu tiên của thế giới đã được in ra tại vương quốc này trong thế kỷ IX.2 Rất nhiều
Truyện tranh Trung Quốc mới cập nhật hay nhất tháng 10 năm 2022 tại kho truyennet. Bạn đọc đừng quên bình luận và chia sẻ, ủng hộ Ti 16 giờ trước. Phản Diện+ Vô Địch + Thông Minh + Tấu Hài + Giải Trí= Lăng Tiêu. 1 nhà văn xuyên qua chính tiểu thuyết của mình, làm
Cần lưu ý rằng những người giữ cương vị thủ tướng Trung Quốc vài thập niên trở lại đây trước đó đều từng là phó thủ tướng. Hai phó thủ tướng hiện đang là ủy viên Bộ Chính trị và ở dưới tuổi hưu không chính thức (70 tuổi) là Hồ Xuân Hoa (59 tuổi) và Uông
Qua đó, ông giải thích tại sao Tây Âu, chứ không phải các nền văn minh khác trong thế giới Á - Âu như Trung Quốc, lại trở thành các thế lực thống trị. Mục đích của cuốn sách này là cung cấp một lược sử về tất cả mọi người trong khoảng 13.000 năm trở lại đây.
Các quan chức của NCSC, Cục Điều tra Liên bang (FBI) và Bộ Nội An (DHS) nhận thấy Bắc Kinh đang thay đổi chiến thuật: Thay vì chỉ tập trung vận động ở thủ đô Washington, Trung Quốc đang mở rộng hoạt động gây ảnh hưởng tới các tiểu bang, địa phương, bộ lạc và các
Wie Kann Ich Eine Ältere Frau Kennenlernen. Ngày đăng 23/04/2015, 1129 TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI KHOA LỊCH SỬ BÀI TẬP ĐIỀU KIỆN BỘ MÔN LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI ĐỀ TÀI NỀN VĂN MINH CỔ TRUNG ĐẠI ÊN ĐỘ CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NHỮNG THÀNH TỰU CHỦ YẾU Họ và tên Nguyễn Thị Dung Líp cao học K17 Thầy giáo hướng dẫn Đỗ Thanh Bình Hà Nội 03/2008 Nguyễn Thị Dung Lịch sử văn minh thế giới MỞ ĐẦU Văn minh là một nền văn hoá phát triển ở một trình độ cao của con người, gắn với một thiết chế chính trị, xã hội nhất định từ sau chế độ công xã nguyên thuỷ. Thời kì lịch sử cổ trung đại của Ên Độ đã tồn tại một nền văn minh rực rỡ. Trong số các điều kiện hình thành nên nền văn minh này thì điều kiện địa lí có vai trò định hình nền móng ban đầu. Nhưng điều kiện cơ bản nhất khẳng định sự phát triển về sau của nền văn minh đó chính là yếu tố kinh tế. Trong khuôn khổ một bài tập điều kiện, em xin phép được trình bày về cơ sở hình thành nền văn minh Ên Độ cổ trung đại dưới góc nhìn của điều kiện địa lí và điều kiện kinh tế. 2 Nguyễn Thị Dung Lịch sử văn minh thế giới NỘI DUNG A/ CƠ SỞ HÌNH THÀNH I/ Điều kiện địa lí Ấn Độ được coi nh mét tiểu lục địa nằm ở phía nam châu thời kì hình thành và phát triển nền văn minh cổ trung đại thì lãnh thổ Ên Độ vẫn bao gồm cả Pa-ki-xtan, Băng-la-đet và Nê-pan. Về mặt vị trí địa lí, bán đảo Ên Độ có chiều ngang rộng từ 67 đến 87° kinh đông và có chiều dài từ 7 đến 32° vĩ bắc. Phía đông bắc, Ên Độ được ngăn cách với lục địa châu Á bằng dãy núi Hi-ma-lay-a cao nhất thế giới. Ên Độ chỉ có thể liên hệ bằng đường bộ với thế giới qua phía tây-bắc, qua đèo Bolan, hoặc từ Ta- xi-la qua Ka-bul để đến I-ran và Trung Á. Tuy nhiên 2 mặt phía tây nam và phía đông nam của Ên Độ đều giáp biển. Vị trí của Ên Độ nằm giữa đường biển từ Tây Hồng Hải và vịnh Ba-tư sang Đông biển Đông và Thái Bình Dương . Đây chính là nơi dừng chân bắt buộc trên con đường hàng hải Tây- Đông. Đặc biệt, với đường biển thuận lợi nh thế thì việc thông thương giữa các vùng khác trên thế giới với Ên Độ hoặc từ Ên Độ đi các nơi khác là hết sức dễ dàng và thuận tiện. Về mặt địa hình thì lãnh thổ Ên Độ được chia thành 2 miền tương đối rõ rệt qua sự ngăn cách của dãy núi Vindhya. Nửa lãnh thổ phía bắc là lưu vực của 2 con sông lớn sông Ên Indus ở phía tây- bắc và sông Hằng Ganga ở phía đông- bắc. Lưu vực sông Ên một thời có điều kiện đất đai rất thuận lợi cho một nền kinh tế nông nghiệp. Và đây là một trong những cái nôi để hình thành nền văn minh cổ đại Ên Độ. Tuy nhiên sau đó khu vực này đã bị chi phối bởi các hiện tượng như hoang mạc hoá, cát lấn nên phần chủ yếu của lưu vực sông Ên chịu tác động từ hoang mạc Thar. Tuy nhiên lưu vực sông Hằng thì màu mỡ và ổn định hơn. Nửa lãnh thổ phía nam rất rộng lớn nhưng lại là vùng đất không có nhiều ưu đãi. Mặc dù có hai mặt giáp biển nhưng ảnh hưởng của biển không nhiều đối với 3 Nguyễn Thị Dung Lịch sử văn minh thế giới khu vực này do hai dãy núi Gát-Đông và Gát-Tây bao chắn ở hai bờ phía đông và phía tây của bán đảo. Sự khép lại của hai dãy núi này đã tạo nên một cao nguyên Đê-can khô hạn. Đây là vùng núi cao, rừng rậm rộng lớn và khá khắc nghiệt. Tuy nhiên chạy dọc theo hai bờ đông tây của bán đảo Ên Độ là hai vùng đồng bằng duyên hải nhỏ hẹp. Đây là những nơi điều kiện sống thuận lợi nên cư dân tập trung khá đông đúc. Về mặt khí hậu, khí hậu Ên Độ khá đa dạng xét theo chiều giảm dần của vĩ độ. Phía bắc, vùng giáp chân núi Himalaya thì khí hậu rất lạnh, có tuyết rơi. Nhưng ngay ở phía bắc Ên Độ, tính từ vĩ độ 23° bắc thì khí hậu đã rất nóng và khô do ảnh hưởng của đới chí tuyến. Vùng tây bắc thuộc lưu vực sông Ên, khí hậu khô nóng. Chính kiểu khí hậu này đã tạo nên hoang mạc Thar rộng lớn, mỗi chiều khoảng 600 km. Và đến lượt nó, hoang mạc Thar lại tác động trở lại đối với khu vực. Lưu vực sông Ên vốn Ýt mưa lại chịu tác động trực tiếp từ hoang mạc Thar nên cát bay dữ dội, phủ một líp dày trên hai bê trung lưu sông Ên. Nhưng phía đông bắc, vùng lưu vực sông Hằng thì lại là một bức tranh khác hẳn. Chịu ảnh hưởng của gió mùa từ biển thổi vào nên lưu vực sông Hằng có mưa và thực vật phát triển tốt. Nhiều ngành kinh tế, đặc biệt là trồng lúa nước khá phát triển. Dịch xuống phía nam, nh đã nói ở trên, là khu vực cao nguyên Đê-can rất khô, nóng và rất nóng. Nhưng ở vùng duyên hải thì gió biển đã đem lại mưa, khí hậu dịu mát hơn và có nhiều nước sinh hoạt cho người dân ở đây. Nh vậy Ên Độ là một quốc gia có thiên nhiên đa dạng. Miền Bắc có lắm sông ngòi và nhiều điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp phát triển. Miền Nam có lắm rừng nhiều núi, có sa mạc nóng cháy lại có mưa gió theo mùa. Đây quả thật là một thiên nhiên vừa đóng kín, vừa cởi mở, vừa là một tiểu lục địa thống nhất, cách biệt với bên ngoài, vừa chia cắt và khác nhau ở bên trong, vừa hùng vĩ và cực kì đa dạng. 4 Nguyễn Thị Dung Lịch sử văn minh thế giới Chính sự đa dạng trên đây, đặc biệt là các điều kiện thuận lợi ở các lưu vực sông ở miền Bắc mà cư dân cổ đại Ên Độ đã sáng tạo nên một nền văn minh rực rỡ. Trong điều kiện thời kì cổ đại, khi các yếu tố về khoa học kĩ thuật chưa chi phối thì những điều kiện địa lí thuận lợi chính là những viên gạch đầu tiên xây dựng nên nền văn minh cổ trung đại Ên Độ. II/ Điều kiện kinh tế Kinh tế thời cổ trung đại Ên Độ vừa là điều kiện để hình thành nên các giá trị của nền văn minh Ên Độ vừa là biểu hiện của nền văn minh đó. Tuy nhiên, tương ứng với các giai đoạn phát triển khác nhau của nền văn minh cổ trung đại Ên Độ thì sự phát triển kinh tế ở mỗi giai đoạn là khác nhau. Vì thế, xin phép đựoc trình bày các điều kiện kinh tế theo các giai đoạn của nền văn minh. 1/ Thời kì văn minh lưu vực sông Ên từ đầu TNK III TCN đến giữa TNK II TCN Nh trên chúng ta đã biết, khởi nguyên của nền văn minh cổ trung đại Ên Độ là nền văn minh sông Ên văn minh I ndus. Từ rất sớm cư dân Indus đã định cư trên lưu vực sông Ên tạo nên các thành phố cổ với những ngành kinh tế sơ khai. Đầu tiên là ngành kinh tế nông nghiệp. Thời kì này công cụ đồng thau đã xuất hiện nhưng cư dân chưa biết đến kĩ nghệ đồ sắt. Họ không trồng lúa nước mà trồng lúa đại mạch. Nông nghiệp đã khá phát triển biểu hiện qua số thóc thừa chứa trong các kho đụn. Bên cạnh nông nghiệp, thủ công nghiệp cũng đã có sự phát triển. Sản phẩm thủ công nghiệp khá phong phú, từ công cụ lao động đến đồ gốm, đồ trang sức Sản phẩm thủ công nghiệp của Ên Độ cũng đã có mặt tại Lưỡng Hà và ngược lại. Do buôn bán phát triển mà sản phẩm của Lưỡng Hà cũng có mặt ở đây. Một con dấu hình trụ của Lưỡng Hà được chế tạo mô phỏng theo kiểu của Ên Độ đã nói lên quan hệ giao lưu thương mại giữa hai vùng. 5 Nguyễn Thị Dung Lịch sử văn minh thế giới Tuy nhiên do nhiều lÝ do, trong đó có sự ảnh hưởng trực tiếp của thời tiết mà sau đó cư dân sông Ên đã loạn li. Hướng đi của cư dân Arya là về phía đông, định cư trên lưu vực sông Ganga. Lóc này cư dân bản địa ở đây mới bước vào thời kì đồng thau, vừa chăn nuôi vừa làm nông nghiệp sơ khai và chế tác đồ gốm. Người Arya đến và đã dạy người dân bản địa cách dùng ngựa để chuyên chở. Còn người bản địa thì lại dạy người Arya cách trồng lúa nước. Vì thế, một ngành nông nghiệp định cư đã thay thế cho chăn nuôi du mục, thực sự phát triển năng động, nhanh chóng chiếm ưu thế và làm chủ lưu vực sông G anga. Đó là cơ sở để làm nên nền văn minh ở lưu vực sông Hằng. 2/ Thời kì nền văn minh ở lưu vực sông Hằng từ khoảng giữa TNK II TCN đến giữa TNK I TCN. Nh trên đã trình bày thì nông nghiệp thời kì này ở lưu vực sông Hằng đã có những chuyển biến lớn. Cư dân đã biết dùng công cụ đồng và đá để đẽo các dụng cụ bằng gỗ, nhất là lưỡi cày. Họ còn đan bện các đồ dùng bằng lau sậy, thuộc da, làm đồ gốm, mà loại gốm phổ biến nhất là gốm đen bóng có hoa văn giải băng chấm. Cuối giai đoạn này, từ khoảng 800 năm TCN, kĩ nghệ luyện sắt đã được áp dụng. Điều này đã thúc đẩy nghề đúc kim khí, làm đồ gỗ, nhất là xe kéo, nhà cửa. Chính ở thời gian này thương nghiệp bắt đầu xuất hiện. Cư dân trao đổi sản phẩm nông nghiệp và thủ công nghiệp giữa các vùng. Có lẽ cũng đã xuất hiện ngoại thương. Các tài liệu có nói đến việc buôn bán ven biển với vịnh Ba-tư và Hồng Hải qua đường biển Tây-Đông. Hình thức phổ biến trong buôn bán vẫn là trao đổi trực tiếp tuy đã bắt đầu xuất hiện hình thức vật trung gian. Sù phát triển kinh tế nêu trên đã thúc đẩy sự phân hoá xã hội theo tính chất nghề nghiệp. Họ gọi dân làm nghề chăn nuôi ở đông bắc Ên Độ là Panis và dân làm ruộng là Dasa. Suđra hẳn được dùng để chỉ tầng líp này. 3/ Thời kì các quốc gia sơ kì ở miền bắc Ên Độ từ 600-321 TCN. 6 Nguyễn Thị Dung Lịch sử văn minh thế giới Đây là giai đoạn mà ở lưu vực sông Ganga có sự hình thành của hàng loạt tiểu quốc trong đó thừa nhận vai trò bá quyền của tiểu quốc Magađa. Nhưng đây cũng là giai đoạn người Ên Độ bắt đầu có sự tiếp xúc với người Iran và người Hilạp, mà một trong những biểu hiện của sự tiếp xúc đó là sự xâm lược của Alêchxăngđrơ Makêđônia vào phía tây bắc Ên Độ. Tuy nhiên ở chính thời gian đó thung lũng sông Hằng vẫn đứng ngoài những biến động của lưu vực sông Ên. Và mặc cho những thăng trầm diễn ra, vùng này vẫn phát triển và đạt nhiều thành tựu mới. Nông nghiệp tiếp tục phát triển nhờ đất đai màu mỡ và hệ thống thuỷ lợi được mở mang. Các ngành thủ công có nhiều tiến bộ. Nghề luyện sắt và rèn đúc sắt lần đầu tiên nở ré dưới thời Magađa. Các loại mòi lao, giáo, mòi tên sắt đã khá phổ biến. Loại gốm đặc trưng của miền Bắc là loại có xương gốm mịn, tráng màu xanh thẫm, ngả từ màu xanh thép sang sám thẫm và đen bóng. Chủ yếu là đĩa và bát nhỏ- những mặt hàng thương phẩm có giá trị cao. Về dệt, người Ên Độ thời kì này đã dệt được vải trắng sợi bông. Còn về thương nghiệp, thời kì này các nhà buôn chuyên chở và trao đổi hàng hoá từ hạ lưu sông Hằng đến cửa sông Ên rồi theo đường biển đến vịnh Batư và Hồng Hải hoặc ngược sông Hằng lên Ta-xi-la và theo đường bộ đến Iran và Tiền Á. Trong trao đổi người Ên Độ đã đúc được tiền bạc và tiền đồng. 4/ Thời kì vương triều Môrya 321- 232 TCN Đây là thời kì kinh tế vẫn chủ yếu dùa vào nông nghiệp song đã thừa nhận sự chiếm hữu tư nhân về ruộng đất. Việc khai khẩn đất hoang thuộc về nhà nước. Người dân nhận ruộng của làng, tự canh tác và nép thuế. Gắn với nông nghiệp là thuỷ lợi. Nhà nước rất quan tâm đến công tác đắp đê, đào kênh, đập để phát triển nông nghiệp. 7 Nguyễn Thị Dung Lịch sử văn minh thế giới Thủ công nghiệp và thương nghiệp cũng có nhiều tiến bộ. Nhà nước điều khiển việc chế tạo vũ khí và tàu thuyền bên cạnh các nghề thủ công truyền thống. Thợ thủ công tập hợp lại với nhau trong các phường hội. Việc buôn bán nội địa lúc này phát triển hơn nhiều do không còn có sự phân biệt quốc gia này với quốc gia khác từ bắc đến nam. 5/ Thời kì phân liệt trên bán đảo Ên Độ 232 TCN-320 sau CN Đây là thời kì Ên Độ diễn ra sự phân chia các quốc gia với sự phát triển khác nhau giữa các tiểu quốc ở các miền Nam-Bắc. Tuy nhiên có thể nói rằng sau thời kì thống nhất của vương triều Môrya thì đây không phải là một giai đoạn khủng hoảng tan rã của Ên Độ mà đây là sự chia cắt để phát triển cao hơn, tương đối đồng đều hơn trong từng phạm vi nhỏ hơn ở mỗi miền đất nước. 6/ Từ triều đại Gupta đến triều đại Hacsa từ 320 đến 648 Nông nghiệp vẫn được chú trọng với việc khai hoang và làm thuỷ lợi. Trong khi đó thì thủ công nghiệp khá phát triển. Nghề dệt là nghề phát triển nhất và có ý nghĩa hàng đầu đối với kinh tế. Tiếp đến là khai mỏ và luyện kim, đặc biệt là nghề làm đồ trang sức đã đạt đến trình độ nghệ thuật cao và hoàn thiện. Thương nghiệp cũng được phát triển với mạch máu giao thông chính là con sông Hằng. Hàng hoá trao đổi rất phong phú. Một loạt các hải cảng quan trọng đã thu hót các tàu buôn từ Trung Quốc, Ai Cập, Đông Dương, Mã Lai 7/ Thời kì bị chia cắt và xâm lược giữa thế kỉ VII đến thế kỉ XII. Nhìn chung kinh tế Ên Độ thời kì này sa sút dù rằng cũng đã được duy trì ở một mức độ nhất định để phục vụ chiến tranh. Nông nghiệp được canh tác 2 mùa với những kĩ thuật canh tác mới. Sản phẩm thừa từ nông nghiệp được mang ra trao đổi khá phong phú. thời gian này thợ thủ công được các chóa phong kiến đưa vào thành phố nên thủ công nghiệp ở thành thị phát triển mạnh. Ngoại thương vẫn được duy trì nhưng thời kì này người ta còn biết buôn bán cả với Nhật Bản. Thương nhân cũng tập hợp lại trong các đẳng cấp. 8 Nguyễn Thị Dung Lịch sử văn minh thế giới 8/ Thời kì Xuntan Đêli và Ên Độ Môgôn thế kỉ XIII đến thế kỉ XIX Thời kì Xuntan Đêli Nền kinh tế với nông nghiệp vẫn là chủ yếu nhưng thời kì này năng suất đã tăng lên. Thủ công nghiệp vẫn phát triển các ngành truyền thống làm cho ngoại thương cũng trở nên tấp nập với nhiều hải cảng ở vịnh Bengan, biển Arập Bước sang thời kì vương triều Môgôn, với sự tập trung nhất định của nhà nước trong việc điều hành đất nước thì nền kinh tế Ên Độ đã được nâng cao Ýt nhiều. Ngoài trồng cây lương thực người ta còn trồng các loại cây công nghiệp. Mỗi thành phố hải cảng thường có một nghề thủ công riêng nhưng thương mại của thành phố đó mới là quan trọng nhất. Nhìn chung mỗi thời kì nền kinh tế Ên Độ có những bước phát triển riêng nhưng về cơ bản ngành kinh tế truyền thống của nước này vẫn là nông nghiệp và công thương nghiệp. Giao lưu trao đổi nội vùng và với thế giới bên ngoài phát triển mạnh. Nhờ đó, nền văn minh cổ trung đại Ên Độ vừa có những thành tựu đa dạng khẳng định những giá trị của văn hoá truyền thống vừa có sự tiếp thu những tinh hoa văn hoá từ bên ngoài vào. Như vậy kinh tế chính là một trong những điều kiện qui định tính chất và trình độ của nền văn minh cổ trung đại Ên Độ. B/ NHỮNG THÀNH TỰU CHÍNH Trong bối cảnh điều kiện tự nhiên của các lưu vực sông ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh tế và văn hoá nên các thành tựu của nền văn minh Ên Độ có những đặc điểm riêng. Về cơ bản, các thành tựu đó tập trung trên một số lĩnh vực sau 1. Về chữ viết Chữ viết của Ên Độ được sáng tạo đầu tiên vào thời văn hoá Happara. Tại lưu vực sông Ên đã phát hiện tới trên 3000 con dấu khắc chữ đồ hoạ. Đây là một loại chữ dùng hình vẽ để ghi âm và ghi vần. Loại chữ này được viết từ phải sang trái. Điều đặc biệt là các con dấu này được đóng trên các kiện hàng để xác nhận 9 Nguyễn Thị Dung Lịch sử văn minh thế giới hàng hoá, chứng tỏ nền kinh tế, đặc biệt là việc trao đổi hàng hoá đã rất phát đạt. Chi tiết đó càng chứng tỏ kinh tế chính là điều kiện làm nên văn minh nh đã phân tích ở trên. Đến thế kỉ V TCN thì xuất hiện một loại chữ, đó là Kharosthi, phỏng theo chữ của vùng Lưỡng Hà. Sau đó xuất hiện chữ Brami được sử dụng rộng rãi, đặc biệt trên bia mộ của Axôca. Trên cơ sở chữ Brami, người Ên Độ đã đặt lại chữ Đêvanagari có cách viết thuận tiện hơn. Loại chữ này còn được dùng tới ngày nay tại Ên Độ và Nêpan. 2. Văn học Trong cuộc sống sinh hoạt, đấu tranh sinh tồn, chống thiên tai và chống xâm lấn, nền văn học Ên Độ đã ra đời và có nhiều thành tựu đáng kể. Hai bộ phận quan trọng của văn học là sử thi và Vêđa. a/ Vêđa Thông qua hình thức các bài ca và những bài cầu nguyện, các tập của Vêđa không những phản ánh bối cảnh xã hội Ên Độ ở thời kì tan rã của chế độ công xã thị téc, hình thành một xã hội có giai cấp và nhà nước mà còn là bức tranh về cuộc sống của cư dân Ên Độ ở thời điểm đó. Đó là nội dung của 3 tập đầu tiên Rích Vêđa, Xama Vêđa và Yagiua Vêđa. Còn tập cuối cùng là Atacva Vêđa lại đề cập đến một lĩnh vực khác, đó là chế độ đẳng cấp, việc hành quân hay cả một số mặt của đời sống xã hội. Và sau 4 tập kinh Vêđa là một số tác phẩm viết bằng văn xuôi, tuy nhiên không có nhiều giá trị. b/ Sử thi Có hai bộ sử thi rất nổi tiếng đó là Mahabharata và Ramayana. Đây là hai bộ sử thi đồ sộ được truyền miệng từ nửa đầu thiên niên kỉ I TCN rồi được chép lại bằng khẩu ngữ. -Mahabharata nghĩa là cuộc chiến tranh giữa con cháu Bharata là bộ sử thi dài nhất thế giới gồm có 18 chương và một chương bổ sung tài liệu, gồm 10 [...]... thần của cư dân Ên Độ, ảnh hưởng và chi phối tình hình chính trị – xã hội của Ên Độ Đây là một trong những thành tựu đáng kể nhất trong nền văn minh cổ trung đại Ên Độ 17 Nguyễn Thị Dung giới Lịch sử văn minh thế KẾT LUẬN Tóm lại, những thành tựu của nền văn minh cổ trung đại Ên Độ là cực kì phong phú và nổi bật Những nét văn hoá trong nền văn minh đó vừa mang những nét chung của văn hoá Á Đông, vừa... định hình những bản sắc riêng của văn hoá Ên Độ Những thành tựu đó có thể vẫn đang tồn tại hoặc cũng có thể đã không còn, nhưng chúng vẫn vẹn nguyên sự vô giá đối với lịch sử hiện đại của Ên Độ và đối với loài người 18 Nguyễn Thị Dung giới Lịch sử văn minh thế TÀI LIỆU THAM KHẢO 1 Amalnach những nền văn minh thế giới, NXB văn hóa thông tin, Hà nội, 1995 2 Đặng Đức An Chủ biên, Lịch sử thế giới cổ đại, ... NXBGD, 1995 3 Lê Phụng Hoàng Chủ biên, Lịch sử văn minh thế giới, NXBGD, 1999 4 Lê Phụng Hoàng, Hà Bích Liên, Trần Hồng Ngọc, Các công trình kiến trúc nổi tiếng trong lịch sử thế giới cổ- trung đại, NXBGD, 1999 5 Lương Ninh Chủ biên, Lịch sử văn hóa thế giới cổ trung đại, NXBGD 6 Lương Ninh Chủ biên, Lịch sử thế giới cổ đại, NXBGD,1995 7 Vò Dương Ninh Chủ biên, Lịch sử văn minh thế giới, NXBGD 19... chỉ có Ksatơrya và Vaisya được trở thành tín đồ của đạo Blamôn và đều được sinh ra hai lần Còn Suđra chỉ được sinh có một lần và không được dự những buổi lễ tôn giáo b/ Sự hình thành và giáo lí của đạo Hinđu 15 Nguyễn Thị Dung giới Lịch sử văn minh thế - Sự hình thành Thế kỉ IV, đạo Phật xuất hiện ở Ên Độ, đạo Bàlamôn bị suy thoái Cho tới thế kỉ VII, đạo Phật lại bị suy sụp Nhân tình hình đó thì đạo... nhận 3 Về thiên văn học Người Ên Độ từ thời cổ đại đã tính ra rằng một năm có 12 tháng, một tháng có 30 ngày, một ngày có 30 giê và cứ 5 năm thì lại có một năm nhuận Do yêu cầu của cuộc sống sản xuất nông nghiệp nên cư dân cổ Ên Độ sớm có những quan sát bầu trời và vũ trụ và tính toán, cho dù những tính toán đó có thể là chưa chính xác Tuy nhiên việc họ cho rằng Trái Đất và Mặt Trăng hình cầu là hoàn... Độ đã tính được sè π bằng 3,1416 Họ cũng đã phát minh ra được đại số học Còn trong hình học họ biết tính diện tích hình vuông, hình chữ nhật, hình tam giác, đa giác, tính được quan hệ giữa các cạnh trong tam giác vuông Có thể nói toán học xuất hiện từ bản thân cuộc sống của cư dân Ên Độ cổ đại và đến lượt nó toán học đã ứng dụng thiết thực vào chính nhu cầu của cuộc sống đó 5 Về vật lí học Phát minh. .. ra, từ những thế kỉ 5 - 4 TCN người Ên Độ đã biết cách chắp xương sọ, mổ bụng lấy thai, lấy sỏi thận với hàng trăm thứ thuốc thảo méc Ngoài những ngành khoa học trên đây, người Ên Độ còn có những hiểu biết về các lĩnh vực nh hoá học, sinh học, nông học nghệ thuật Cuộc sống phong phú cùng với sự giao lưu văn hoá đã làm nên những nét đặc sắc của kiến trúc, điêu khắc của nền văn minh Ên Độ Kiến... khoa học kiêm triết học người Ên Độ Trường phái triết học Vaisêsica cho rằng vạn vật đều do nguyên tử tạo nên, vật chất khác nhau là do nguyên tử khác nhau Ngoài ra người Ên Độ cũng đã biết đến sức hót của quả Đất Đây rõ ràng là những nhận thức ban đầu rất quan trọng, đặt nền móng cho các ngành vật lí học về sau 6 Về y dược học Ên Độ cổ đại đã có nhiều thành tựu rất lớn và sớm hơn nhiều so với các nước... kỉ VIII và IX, đạo Bàlamôn có bổ sung thêm nhiều yếu tố mới và từ đó được gọi là đạo Hinđu, hay còn gọi là Ên Độ giáo - Giáo lí Đạo Hinđu ra đời trên cơ sở đạo Bàlamôn nên về cơ bản nội dung tư tưởng của nó không có nhiều thay đổi Đối tượng sùng bái của đạo Hinđu vẫn là 3 vị thần Brama, Siva và Visnu Có khác chăng là quan niệm về các vị thần này đã rõ ràng và sâu sắc hơn Đạo Hinđu cũng chia thành hai... Lan, Inđônêxia - Đến khoảng năm 100 sau công nguyên, đạo Phật triệu tập đại hội và thông qua giáo lí của đạo Phật cải cách bằng phái Đại thừa Sau đại hội này, đạo Phật lại tiếp tục được truyền bá mạnh ở Trung Á, Trung Quốc và trở thành quốc giáo của Xrilanca, Mianma, Thái Lan, Campuchia, Lào Ngoài đạo Hinđu và đạo Phật, ở Ên Độ còn tồn tại một số tôn giáo khác nh đạo Jain, đạo Xích Thực sự tôn giáo . TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI KHOA LỊCH SỬ BÀI TẬP ĐIỀU KIỆN BỘ MÔN LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI ĐỀ TÀI NỀN VĂN MINH CỔ TRUNG ĐẠI ÊN ĐỘ CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NHỮNG THÀNH TỰU CHỦ YẾU Họ và tên. Ên Độ. Đây là một trong những thành tựu đáng kể nhất trong nền văn minh cổ trung đại Ên Độ. 17 Nguyễn Thị Dung Lịch sử văn minh thế giới KẾT LUẬN Tóm lại, những thành tựu của nền văn minh cổ. nền văn minh cổ trung đại Ên Độ. II/ Điều kiện kinh tế Kinh tế thời cổ trung đại Ên Độ vừa là điều kiện để hình thành nên các giá trị của nền văn minh Ên Độ vừa là biểu hiện của nền văn minh - Xem thêm -Xem thêm tiểu luận nền văn minh cổ trung đại ấn độ cơ sở hình thành và những thành tựu chủ yếu, tiểu luận nền văn minh cổ trung đại ấn độ cơ sở hình thành và những thành tựu chủ yếu,
Văn học Trung Quốc thời kì này có nhiều thể loại như thơ ,từ, phú, kịch, tiểu thuyết,….trong đó tiêu biểu nhất là kinh thi thơ Đường và tiểu thuyết Minh Thanh. a/ Kinh thi Kinh thi là tập thơ cổ nhất Domain Liên kết Hệ thống tự động chuyển đến trang sau 60 giây Tổng 0 bài viết về có thể phụ huynh, học sinh quan tâm. Thời gian còn lại 000000 0% Bài viết liên quan Tiểu thuyết minh thanh Tiểu thuyết Minh Thanh - Kho tàng văn học Trung Quốc Oct 5, 2021Thủy Hử. 3. Tây Du Ký. 4. Kim Bình Mai. Tiểu thuyết Minh Thanh phát triển với nhiều sáng tác tiểu thuyết hay, cho ra đời không ít những tác phẩm nổi tiếng vì thế thời kỳ Minh, Thanh được gọ Xem thêm Chi Tiết Tiểu thuyết tài tử giai nhân Minh Thanh - BOOKHUNTER - Đọc để nhận thức ... Tiểu thuyết giai nhân tài tử cuối Minh đầu Thanh phát triển trên cơ sở của những tác phẩm có đề tài cùng loại đã có trước đó thành trung thiên tiểu thuyết, lại chịu ảnh hưởng của hý khúc giai nhân tài Xem thêm Chi Tiết Tiểu thuyết Minh Thanh có đặc điểm là - Tuyet Anh Mar 7, 2021Trả lời 1 - Tên gọi Cổ điển, Minh - Thanh, chương hồi. - Đặc điểm + Được chia làm nhiều hồi kể. + Đầu mỗi hồi có "hồi mục", là một hoặc hai câu thất ngôn dự báo tình tiết chính của hồi. Xem thêm Chi Tiết Tìm Hiểu Về Tiểu Thuyết Minh - Thanh - Việt Nam Overnight Mình soạn theo from câu hỏi đề cương để ôn thi nên bài viết chỉ mang tính chất tham khảo chứ không phải đáp án chính xác nhất. Minh - Thanh là thời đại mà tiểu thuyết phát triển nhất, không những số l Xem thêm Chi Tiết Đặc điểm tiểu thuyết chương hồi Minh Thanh? Diễm Hồng Quỳnh. Một số đặc điểm tiêu biểu Tiểu thuyết Minh Thanh là dạng trung gian giữa truyện kể sử thi và tiểu thuyết hiện đại Kết cấu Theo trình tự tự nhiên trình tự thời gian, cái gì xảy r Xem thêm Chi Tiết Tiểu sử thầy Thích Minh Thành và tất cả bài giảng mới nhất 2019 Tiểu sử của thầy Thích Minh Thành và tất cả pháp thoại do thầy Thích Minh Thành thuyết giảng, cập nhật liên tục bài mới nhất 2018-2019. Home; Tin Tức. Phật Giáo; Thông Báo; Từ Thiện; Tu Viện Tường Vân Xem thêm Chi Tiết Tiểu thuyết cổ trung đại Trung Quốc thời Minh -Thanh Minh - Thanh là thời kỳ hoàng kim của tiểu thuyết Trung Quốc. Với những bộ sách Tam quốc, Thuỷ hử, Đông Chu liệt quốc, Tây du ký, Phong thần diễn nghĩa, Liêu trai chí dị, Chuyện làng nho, Hồng lâu mộn Xem thêm Chi Tiết Thể Loại Văn Học Nổi Tiếng Thời Minh Thanh, Loại Hình Văn Học Apr 14, 2022Các tác phẩm nổi tiếng của tiểu thuyết văn học thời Minh Thanh Tam quốc diễn nghĩa của La quán Trung, Thủy hử của Thi vật nài Am, Tây du ký của Ngô quá Ân, Kim Bình Mai của Tiếu Tiếu Sinh Xem thêm Chi Tiết Thành tựu của văn minh Trung Quốc cổ trung đại potx Tiểu thuyết Minh Thanh Tiểu thuyết là loại hình văn học mới xuất hiện và phát triển từ thời Minh - Thanh Dựa vào các câu chuyện lưu truyền trong dân gian, các nhà văn đã viết thành tiểu thuyết chương Xem thêm Chi Tiết Tại sao văn học thời Minh-Thanh được coi là thời đại của thể loại tiểu ... Thời Đường thì có tiểu thuyết truyền kỳ nhưng cái ảnh hưởng trực tiếp đến tiểu thuyết Minh, Thanh chính là tiểu thuyết Thoại Bản một hình thức tiểu thuyết Bạch thoại phát triển từ thời Tống, chủ yếu Xem thêm Chi Tiết Bạn có những câu hỏi hoặc những thắc mắc cần mọi người trợ giúp hay giúp đỡ hãy gửi câu hỏi và vấn đề đó cho chúng tôi. Để chúng tôi gửi vấn đề mà bạn đang gặp phải tới mọi người cùng tham gia đóng gop ý kiếm giúp bạn... Gửi Câu hỏi & Ý kiến đóng góp » Có thể bạn quan tâm đáp án Thi Ioe Lớp 11 Vòng 4 Anh Trai Dạy Em Gái ăn Chuối Nghe Doc Truyen Dam Duc Những Câu Nói Hay Của Mc Trong Bar Nội Dung Bài Hội Thổi Cơm Thi ở đồng Vân Truyện Tranh Gay Sm Diễn Văn Khai Mạc Lễ Mừng Thọ Người Cao Tuổi ép đồ X Hero Siege Rus đáp án Thi Ioe Lớp 9 Vòng 1 U30 Là Bao Nhiêu Tuổi Video mới Tiểu Thư đỏng đảnh Chap 16,17 Ghiền Truyện Ngôn Đêm Hoan Ca Diễn Nguyện ĐHGT Giáo Tỉnh Hà Nội - GP... ????[Trực Tuyến] NGHI THỨC TẨN LIỆM - PHÁT TANG CHA CỐ... Thánh Lễ Tất Niên Do Đức Đức Tổng Giám Mục Shelton... Thánh Vịnh 111 - Lm. Thái Nguyên L Chúa Nhật 5 Thường... ????Trực Tuyến 900 Thánh Lễ Khánh Thánh & Cung Hiến... THÁNH LỄ THÊM SỨC 2022 - GIÁO XỨ BÌNH THUẬN HẠT TÂN... TRÒN MẮT NGẮM NHÌN NHÀ THỜ GỖ VÀ ĐÁ LỚN NHẤT ĐỒNG NAI... KHAI MẠC ĐẠI HỘI GIỚI TRẺ GIÁO TỈNH HÀ NỘI LẦN THỨ... Trực Tiếp Đêm Nhạc Giáng Sinh 2022 Giáo Xứ Bình... Bài viết mới Vân là một cô gái cực kỳ xinh đẹp, cô đã làm việc ở công ty này được ba ... Thuốc mỡ tra mắt Tetracyclin Quapharco 1% trị nhiễm khuẩn mắt - Cập ... Vitamin C 500mg Quapharco viên Thuốc Metronidazol 250mg Quapharco hỗ trợ điều trị nhiễm Trichomonas ... Quapharco Import data And Contact-Great Export Import Tetracyclin 1% Quapharco - Thuốc trị viêm kết mạc, đau mắt hột Tetracyclin 3% Quapharco - Thuốc trị nhiễm khuẩn mắt hiệu quả Thuốc giảm đau, hạ sốt, kháng viêm Aspirin pH8 500mg QUAPHARCO hộp 10 ... Quapharco - thương hiệu của chất lượng - Quảng Bình Today Acyclovir 5% Quapharco - Giúp điều trị nhiễm virus Herpes simplex
Suốt 5000 năm tồn tại và phát triển, văn minh Trung Quốc không chỉ có ảnh hưởng đến các dân tộc Châu Á, mà còn có những đóng góp lớn cho tiến trình phát triển của văn minh loài người. Những phát minh lớn của Trung Quốc trong lịch sử khoa học - kĩ thuật của thế giới. Những phát minh đó đã làm thay đổi bộ mặt thế giới, loại thứ nhất trên bình diện văn học, loại thứ hai trên bình diện chiến tranh, loại thứ ba trên bình diện hàng hải nội dung chi tiết của bài tiểu luận. Lịch sử văn minh thế giới LỜI MỞ ĐẦU Như vậy với những ưu thế nổi vốn có của mình thì Trung Quốc đã có một nền văn minh vô cùng rực rỡ về nhiều mặt trong đó nổit bật như chữ viết văn học sử học khoa học -tự nhiên. .Đặc biệt Trung Quốc rất coi trọng việc giáo dục con người thể hiện trong việc mở các trường học và tổ chức các khoa cử trong các triều đại trước. Với một đất nước có bề dày về mặt lịch sử bề rộng về mặt địa lý ngay từ thời cổ đại Trung Quốc đã có những phát minh lớn có tiếng vang và ảnh hưởng đến cả thế giới trong đó tiêu biểu nhất là giấy la bàn thuốc phát minh ra giấy là một cuộc cách mạng trong truyền bá chữ viết trao đổi tư tưởng và phổ biến kiến thức Những phát minh đó cho thấy con người Trung Quốc rất năng động sáng nữa suốt 5000 năm tồn tại và phát triển văn minh Trung Quốc không chỉ có ảnh hưởng đến các dân tộc châu Á mà còn có những đóng góp lớn cho tiến trình phát triển của văn minh loài phát minh lớn của Trung Quốc trong lịch sử khoa học -kĩ thuật của thế phát minh đó đã làm thay đổi bộ mặt thế giới loại thứ nhất trên bình diện văn học loại thứ hai trên bình diện chiến tranh loại thứ ba trên bình diện hàng hải. Từ một nước nghèo nàn lạc hậu thì Trung Quốc đã phấn đấu đi lên thành một nước có chỉ số phát triển đầu người cao nhất thế giới. Chính trị từ khủng hoảng đến ổn định. Những đóng góp của văn minh Trung Quốc cho nhân loại là rất lớn chúng ta không thể phủ nhận tế đã cho thấy điều đó. Anh của nền văn minh Trung Quốc là rất lớn trong đó không thể ngoại trừ Việt Nam cần học tập con người Trung Quốc về sự nhạy bén với thời cuộc sáng tạo hơn nữa trong các lĩnh vực. Với những thành tựu đó ngừơi Trung Quốc hoàn toàn có thể ngẩng cao đầu trên trường quốc tế ngừơi Trung Quốc có thể tự hào về con ngừơi và đất nước Quốc xứng đáng để cả thế giới ngưỡng mộ và học tập. Nhóm Glory 2 Lịch sử văn minh thế giới Chữ giáp cốt NHỮNG THÀNH Tựu CỦA NỀN VĂN MINH TRUNG QUỐC. 1 Chữ viết Cũng giống
1. Cơ sở hình thành nền văn minh Trung Điều kiện tự nhiên, dân cưLãnh thổ Trung Quốc ngày nay rộng mênh mông nhưng Trung Quốc thời cổ đại nhỏ hơn bây giờ nhiều. Địa hình Trung Quốc đa dạng, phía Tây có nhiều núi và cao nguyên, khí hậu khô hanh, phía đông có các bình nguyên châu thổ phì nhiêu, thuận lợi cho việc làm nông hàng ngàn con sông lớn nhỏ ở Trung Quốc, có hai con sông quan trọng nhất là Hoàng Hà và Trường Giang Dương Tử. Hai con sông này đều chảy theo hướng tây-đông và hàng năm đem phù sa về bồi đắp cho những cánh đồng ở phía đông Trung Quốc gồm nhiều dân tộc nhưng đông nhất là người Hoa-Hạ. Người Hoa ngày nay tự cho tổ tiên họ gổc sinh sống ở ven núi Hoa thuộc tỉnh Thiểm Tây và sông Hạ thuộc tỉnh Hồ Bắc ngày nay.Dân núi Hoa sông Hạ.Trong gần 100 dân tộc hiện sinh sống trên đất Trung Quốc ngày nay, có 5 dân tộc đông người nhất là Hán, Mãn, Mông, Hồi, Sơ lược lịch sửCon người đã sinh sống ở đất Trung Quốc cách đây hàng triệu năm. Dấu tích người vượn ở hang Chu Khẩu Điếm gần Bắc Kinh có niên đại cách đây hơn 500 000 năm. Cách ngày nay khoảng hơn 5000 năm, xã hội nguyên thuỷ ở Trung Quốc bước vào giai đoạn tan rã, xã hội có giai cấp, nhà nước ra đoạn đầu, lịch sử Trung Quốc chưa được ghi chép chính xác mà chỉ được chuyển tải bằng truyền thuyết. Theo truyền thuyết, các vua đầu tiên của Trung Quốc là ở thời kì Tam Hoàng Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông và Ngũ Đế Hoàng đế, Cao Dương đế, Cốc đế, Nghiêu đế, Thuấn đế. Theo các nhà nghiên cứu, thực ra đây là giai đoạn cuối cùng của thời kì công xã nguyên Thời Tam đại ở Trung Quốc trải qua ba triều đạiNhà Hạ từ khoảng thế kỉ XXI – XVI Thương còn được gọi là Ân-Thương từ thế kỉ XVI – XI Chu về danh nghĩa từ thế kỉ XI – III TCN, nhưng thực chất nhà Chu chỉ nắm thực quyền từ thế kỉ XI TCN đến năm 771 TCN thời Tây Chu. Còn từ năm 771, sau loạn Bao Tự đến năm 221 TCN, Trung Quốc ở vào thời loạn. Giai đoạn lịch sử này được ghi lại trong hai bộ Xuân thu sử và Chiến quốc Thời phong kiếnNhà Tần 221-206 TCN Năm 221 TCN, Tần Thuỷ Hoàng đánh bại các nước khác thời Chiến quốc, thống nhất đất nước, tạo điều kiện thống nhất chữ viết, đo lường, tiền Hán 206 TCN – 220 Lưu Bang lập nên nhà Hán. Giai đoạn đầu, nhà Hán đóng đô ở phía tây Trung Quốc – Tây loạn Vương Mãng, nhà Hán dời đô sang phía đông – Đông Tam quốc 220 – 280, đây là thời kì Trung Quốc bị chia xẻ ra làm ba nước Ngụy, Thục, Tấn 265 – 420. Năm 265, cháu Tư Mã Ý tướng quốc nước Ngụy là Tư Mã Viêm bắt vua Ngụy phải nhường ngôi, lập ra nhà – Bắc triều 420 – 581. Thời kì này, Trung Quốc lại chia làm hai triều đình riêng biệt, đến năm 581 Dương Kiên mới thống nhất lại Đường 618 – 907, đây là thời kì phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử phong kiến Trung kì Ngũ đại – Thập quốc 907 – 960, hơn 50 năm này lại loạn lạc , ở miền Bắc có 5 triều đại kế tiếp nhau tồn tại Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Tần, Hậu Chu. Ở miền Nam chia thành 9 nước đó là Ngô, Nam Đường, Ngô Việt, Tiền Thục, Hậu Thục, Nam Hán, Sở Mãn, Nam Bình, và một nước nữa chưa rõ tên.Nhà Tống 960 – 1279. Giai đoạn đầu nhà Tống đóng đô ở phía bắc Bắc Tống, sau bị bộ tộc Kim tấn công quấy phá phải chạy về phía nam Nam Tống. Đến năm 1279 thì bị nhà Nguyên Nguyên 1279 – 1368. Sau khi diệt Tây Hạ, Kim, Nam Tống, Hốt Tất Liệt thống nhất toàn bộ Trung Quốc và lập ra nhà Minh 1368 – 1644. Năm 1368, Chu Nguyên Chương đã lãnh đạo người Hoa khởi nghĩa lật đổ ách thống trị của nhà Nguyên, lập ra nhà Thanh 1644 – 1911. Người Mãn vốn là một nhánh của tộc Nữ Chân, năm 1636 họ lập nước Thanh. Năm 1644, nhân sự loạn lạc ở vùng Trung Nguyên, người Mãn đã kéo quân vào đánh chiếm Bắc kinh, lập ra triều đại cuối cùng của phong kiến Trung Những thành tựu chủ yếu của văn minh Trung HoaTrung Quốc là một trong những nơi xuất hiện nền văn minh sớm thời cổ -trung đại. Văn minh Trung Hoa thời cổ-trung đại có ảnh hưởng rất lớn tới các nước phương Chữ viết, văn họcChữ viếtTừ đời nhà Thương, người Trung Hoa đã có chữ Giáp cốt được viết trên mai rùa, xương thú, được gọi là Giáp cốt văn. Qua quá trình biến đổi, từ Giáp cốt văn hình thành nên Thạch cổ văn, Kim văn. Tới thời Tần, sau khi thống nhất Trung Quốc, chữ viết cũng được thống nhất trong khuôn hình vuông được gọi là chữ Tiểu họcKinh thi là tập thơ cổ nhất ở Trung Quốc do nhiều tác giả sáng tác thời Xuân-Thu, được Khổng tử sưu tập và chỉnh lí. Kinh thi gồm có 3 phần Phong, Nhã, Đường là thời kì đỉnh cao của nền thơ ca Trung Quốc. Trong hàng ngàn tác giả nổi bật lên ba nhà thơ lớn đó là Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư thời Minh-Thanh, tiểu thuyết lại rất phát triển với các tác phẩm tiêu biểu như Tam quốc chí diễn nghĩa của La Quán Trung, Thuỷ hử của Thi Nại Am, Tây du kí của Ngô Thừa Ân, Nho lâm ngoại sử của Ngô Kính Tử, Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần…trong đó Hồng lâu mộng được đánh giá là tiểu thuyết có giá trị Sử họcNgười Trung Hoa thời cổ rất có ý thức về biên soạn sử. Nhiều nước thời Xuân-Thu đã đặt các quan chép sử. Trên cơ sở quyển sử nước Lỗ, Khổng Tử đã biên soạn ra sách Xuân thời Hán, Tư Mã Thiên là một nhà viết sử lớn đã để lại tác Phẩm Sử kí, chép lại lịch sử Trung Quốc gần 3000 năm, từ thời Hoàng Đế đến thời Hán Vũ thời Đông Hán, có các tác phẩm Hán thư của Ban Cố, Tam quốc chí của Trần Thọ, Hậu Hán thư của Phạm Diệp. Tới thời Minh-Thanh, các bộ sử như Minh sử, Tứ khố toàn thư là những di sản văn hoá đồ sộ của Trung Khoa học tự nhiên và kĩ thuậtToán họcNgười Trung Hoa đã sử dụng hệ đếm thập phân từ rất sớm. Thời Tây Hán đã xuất hiện cuốn Chu bễ toán kinh, trong sách đã có nói đến quan niệm về phân số, về quan hệ giữa 3 cạnh trong một tam giác Đông Hán, đã có cuốn Cửu chương toán thuật, trong sách này đã nói đến khai căn bậc 2, căn bậc 3, phương trình bậc1, đã có cả khái niệm số âm, số Nam-Bắc triều có một nhà toán học nổi tiếng là Tổ Xung Chi, ông đã tìm ra số Pi xấp xỉ 3,14159265, đây là một con số cực kì chính xác so với thế giới hồi văn họcTừ đời nhà Thương, người Trung Hoa đã vẽ được bản đồ sao có tới 800 vì sao. Họ đã xác định được chu kì chuyển động gần đúng của 120 vì sao. Từ đó họ đặt ra lịch Can-Chi. Thế kỉ IV TCN, Can Đức đã ghi chép về hiện tượng vết đen trên Mặt trời. Thế kỉ II, Trương Hành đã chế ra dụng cụ để dự báo động 1230, Quách Thủ Kính đời Nguyên đã soạn ra cuốn Thụ thời lịch, xác định một năm có 365,2425 ngày. Đây là một con số rất chính xác so với các nhà thiên văn Châu Âu thế kỉ dược học Thời Chiến Quốc đã có sách Hoàng đế nội kinh được coi là bộ sách kinh điển của y học cổ truyền Trung Hoa. Thời Minh có cuốn Bản thảo cương mục của Lí Thời Trân. Cuốn sách này được dịch ra chữ Latinh và được Darwin coi đây là bộ bách khoa về sinh vật của người Trung Quốc thời đó. Đặc biệt là khoa châm cứu là một thành tựu độc đáo của y học Trung thuậtCó 4 phát minh quan trọng về mặt kĩ thuật mà người Trung Hoa đã đóng góp cho nhân loại, đó là giấy, thuốc súng, la bàn và nghề in. Giấy được chế ra vào khoảng năm 105 do Thái Luân. Nghề in bằng những chữ rời đã được Tất Thăng sáng tạo vào đời sứ cũng có nguồn gốc từ Trung Hoa. Từ thế kỉ VI, họ đã chế ra diêm quẹt để tạo ra lửa cho tiện Hội họa, điêu khắc, kiến trúcHội họaHội họa Trung Quốc có lịch sử 5000 – 6000 năm với các loại hình bạch họa, bản họa, bích họa. Đặc biệt là nghệ thuật vẽ tranh thuỷ mạc, có ảnh hưởng nhiều tới các nước ở Châu Á. Cuốn Lục pháp luận của Tạ Hách đã tổng kết những kinh nghiệm hội họa từ đời Hán đến đời họa Trung Quốc cổ đạiĐiêu khắcỞ Trung Quốc cũng phân thành các ngành riêng như Ngọc điêu, thạch điêu, mộc điêu. Những tác phẩm nổi tiếng như cặp tượng Tần ngẫu đời Tần, tượng Lạc sơn đại Phật đời Tây Hán pho tượng cao nhất thế giới, tượng Phật nghìn mắt nghìn trúcCũng có những công trình rất nổi tiếng như Vạn lí trường thành tới 6700 km, Thành Tràng An, Cố cung, Tử cấm thành ở Bắc Triết học, tư tưởngThuyết Âm dương, Bát quái, Ngũ hành, Âm dương giaÂm dương, bát quái, ngũ hành, là những thuyết mà người Trung Quốc đã nêu ra từ thời cổ đại để giải thích thế giới. Họ cho rằng trong vũ trụ luôn tồn tại hai loại khí không nhìn thấy được xâm nhập vào trong mọi vật là âm và dương lưỡng nghi.Bát quái là 8 yếu tố tạo thành thế giới Càn trời, Khôn đất, Chấn sấm, Tốn gió, Khảm nước, Ly lửa, Cấn núi, Đoài hồ. Trong Bát quái, hai quẻ Càn, Khôn là quan trọng hành là Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Đó là 5 nguyên tố tạo thành vạn vật. Các vật khác nhau là do sự pha trộn, tỉ lệ khác nhau do tạo hoá sinh ra. Sau này, những người theo thuyết Âm dương gia đã kết hợp thuyết Âm dương với Ngũ hành rồi vận dụng nó để giả thích các biến động của lịch sử xã hội .Về tư tưởngThời Xuân Thu – Chiến Quốc, ở Trung Quốc đã xuất hiện rất nhiều những nhà tư tưởng đưa ra những lí thuyết để tổ chức xã hội và giải thích các vấn đề của cuộc sốngBách gia tranh minh.Nho giaĐại biểu cho phái Nho gia là Khổng Tử. Nho gia đề cao chữ nhân, chủ trương lễ trị, phản đối pháp trị. Nho gia đề cao Tam cương, Ngũ thường, cùng với tư tưởng Chính danh định phận và đề cao tư tưởng Thiên mệnh. Giá trị quan trọng nhất trong tư tưởng của Khổng Tử là về giáo dục. Ông chủ trương dạy học cho tất cả mọi thời Hán Vũ Đế 140-87 TCN, chấp nhận đề nghị của Đổng Trọng Thư, Hán Vũ Đế đã ra lệnh “bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật”, Nho gia đã được đề cao một cách tuyệt đối và nâng lên thành Nho giaĐại biểu cho phái Đạo gia là Lão Tử và Trang Tử . Hai ông đã thể hiện tư tưởng của mình qua hai tác phẩm Đạo đức kinh và Nam Hoa kinh. Theo Lão Tử, “Đạo” là cơ sở đầu tiên của vũ trụ, có trước cả trời đất, nằm trong trời đất. Qui luật biến hoá tự thân của mỗi sự vật ông gọi là “Đức”. Lão Tử cho rằng mọi vật sinh thành, phát triển và suy vong đều có mối liên hệ với thời Trang Tử, tư tưởng của phái Đạo gia mang nặng tính buông xuôi, xa lánh cuộc đời. Họ cho rằng mọi hoạt động của con người đều không thể cưỡng lại “đạo trời”, từ đó sinh tư tưởng an phận, lánh Đạo giáo sinh ra sau này khác hẳn Đạo gia, mặc dù có phái trong Đạo giáo tôn Lão Tử làm “Thái thượng lão quân”. Hạt nhân cơ bản của Đạo giáo là tư tưởng thần tiên. Đạo giáo cho rằng sống là một việc sung sướng nên họ trọng sinh, lạc sinh. Pháp giaNgược hẳn với phái Nho gia, phái Pháp gia chủ trương “pháp trị”, coi nhẹ “lễ trị”. Tiêu biểu cho phái Pháp gia là Hàn Phi Tử, một kẻ sĩ thời Tần Thuỷ Hàn Phi Tử, trị nước chỉ cần pháp luật nghiêm minh, rõ ràng, dễ hiểu với mọi người, không cần lễ nghĩa. Ông cho rằng trị nước cần nhất 3 điềuPháp đó là phải định ra được pháp luật nghiêm minh, rõ ràng, dễ hiểu, công bằng với mọi người, không phân biệt đó là quí tộc hay dân Muốn thực thi pháp luật thì các bậc quân vương phải nắm vững quyền thế, không chia xẻ cho kẻ đó là thuật dùng người. Thuật có 3 mặt bổ nhiệm, khảo hạch và thưởng phạt. Thuật bổ nhiệm là khi chọn quan lại chỉ căn cứ vào tài năng và lòng trung thành, không cần dòng dõi, đức hạnh. Khảo hạch là phải kiểm tra công việc thường xuyên. Thưởng phạt thì chủ trương “ai có công thì thưởng, ai có tội thì trừng phạt thật nặng, bất kể là quí tộc hay dân đen”, trọng thưởng, trọng giaNgười đề xướng là Mặc Tử Khoảng giữa thế kỉ V TCN đến giữa thế kỉ IV TCN. Hạt nhân tư tưởng triết học của Mặc gia là nhân và Tử còn là người chủ trương “ thủ thực hư danh” lấy thực đặt tên. Tư tưởng của phái Mặc gia đầy thiện chí nhưng cũng không ít ảo tưởng. Từ đời Tần, Hán trở về sau, ảnh hưởng của phái Mặc gia hầu như không còn đáng kể.Nguồn tài liệu Đoàn Trung, Giáo trình lịch sử văn minh thế giới
lượt xem 65 download Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ Nội dung Text Tiểu luận Thành tựu nền văn minh Ai Cập Tiểu luận Thành tựu nền văn minh Ai Cập 1 LỜI MỞ ĐẦU Ai Cập là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại .Nhờ vào những điều kiện thuận lợi về mặt tự nhiên, ngay từ rất sớm, nơi đây đã hình thành và phát triển một nền văn minh vô cùng rực thành tựu mà cư dân Ai Cập cổ đại đạt được không những là niềm tự hào của đất nước Ai Cập nói riêng mà còn là của thế giới nói chung. Việc tìm hiểu ,khám phá những thành tựu ấy là vô cùng cần thiết ,nó giúp cho chúng ta có một cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về nền văn minh đề tài này ,chúng tôi đã nghiên cứu một cách khái quát về tổng quan và những thành tựu chủ yếu của nền văn minh Ai Cập cổ đại ,mặt khác cũng đề cập đến sự phát triển của Ai Cập hiện nay. Trên cơ sở những kiến thức đã thu thập được từ những nguồn tài liệu khác nhau chúng tôi hi vọng rằng phần nghiên cứu của chúng tôi sẽ mang lại những tri thức bổ ích cho người đã cố gắng chọn lọc ,nghiên cứu nhưng chúng tôi không thề tránh khỏi những sai sót .Rất mong được sự góp ý của cô và các bạn để tiếp tục hoàn thiện đề tài này . 2 MINH AI CẬP CỔ ĐẠI I-Tổng quan về Ai Cập cổ đại lý dân cư lý của Ai Cập cổ đại -Ai Cập nằm ở Đông Bắc Châu Phi,nằm dọc theo vùng hạ lưu của lưu vực sông Tây giáp sa mạc Xahara ,phía Đông giáp Biển Đỏ,phía Bắc giáp Địa Trung Hải ,phía Nam giáp Nubi. -Sông Nin là một trong những con sông dài nhất thế giới khoảng 6500 km,bắt nguồn từ vùng xích đạo của Châu Phi,nhưng vùng chảy qua Ai Cập chỉ dài 700km .Hằng năm,từ tháng 6 đến tháng 11 , nước sông Nin dâng cao đem theo một lượng phù sa bồi đắp cho những cánh đồng ở hạ lưu sông đai màu mỡ ,cây cối tốt tươi,các loài động thực vật và tài nguyên thiên nhiên phong phú ,nên ngay từ thời nguyên thủy con người đã tập trung sinh sống ở đây đông hơn ở các khu vực xung quanh. Chính vì vậy ,nhà sử học Hy Lạp Hêrôđôt nói rằngAi Cập là tặng phẩm của sông Nin”. -Ai Cập chia làm hai miền rõ rệt theo dòng chảy của sông Nin từ Nam lên Bắcmiền Thượng Ai Cập miền Nam là một dải lưu vực hẹp ,miền hạ Ai Cậpmiền Bắclà một đồng bằng hình tam giác. -Con người ở đây đã sớm biết sử dụng những công cụ,vũ khí bằng đó,con người ở đâychuyển sang sống chủ yếu nhờ nghề nông ,thoát khỏi cuộc sống săn bắn ,hái lượm và sớm bước vào xã hội văn minh. cư - Ở lưu vực sông Nin từ thời đồ đá cũ đã có con người sinh sống .Người Ai Cập thời cổ là những thổ dân Châu Phi,hình thành trên cơ sở hỗn hợp rất nhiều bộ đi lại săn bắn trên lục địa,khi đến vùng thung lũng sông Nin,họ định cư ở đây và phát triển nghề nông và nghề chăn nuôi từ rất sớm . 3 - Về sau,một chi của bộ tộc Hamites từ Tây Á xâm nhập vào vùng hạ lưu sông Nin,chinh phục thổ dân người Châu Phi ở qua quá trình hỗn hợp lâu dài ,người Hamites và thổ dân đã đồng hóa lẫn nhau,hình thành ra một bộ tộc mới,đó là người Ai Cập cổ đại. thời kì lịch sử chính của Ai Cập cổ đại Lịch sử Ai Cập cổ đại có thể chia ra làm 5 thời kì chính sau • Thời kì TảoVương quốc khoảng 3200 - 3000 năm TCN • Thời kì Cổ Vương quốc khoảng 3000 - 2200 năm TCN • Thời kì Trung Vương quốc khoảng 2200 - 1570 năm TCN • Thời kì Tân Vương quốc khoảng 1570 - 1100 năm TCN • Thời kì Hậu Vương quốc khoảng 1100 - 31 năm TCN II Những thành tựu chủ yếu của nền văn minh Ai Cập cổ đại viết Khoảng hơn 3000 nămTCN, người Ai Cập cổ đại đã sáng tạo ra chữ tượng hình . Muốn chỉ một vật gì thì họ vẽ những nét tiêu biểu của sự vật đó. Để diễn tả những khái niệm trừu tượng thì họ mượn ý. Thí dụ để diễn tả trạng thái khát thì họ vẽ ba làn sóng nước và cái đầu bò đang cúi xuống; để nói lên sự công bằng thì họ vẽ lông chim đà điểu vì lông đà điểu hầu như dài bằng nhau . Từ chữ tượng hình, sau này người Ai Cập cổ đại đã hình thành ra hệ thống 24 chữ cái. Vào thiên niên kỉ II TCN, người Híchxốt đã học cách viết của người Ai Cậpđể ghi lại các ngôn ngữ của mình. Về sau này, loại chữ viết ấy lại ít nhiều ảnh hưởng tới người Phênixi và người Phênixi đã sáng tạo ra vần chữ cái A , B ...Những chữ tượng hình của người Ai Cập được khắc trên đá, viết trên da, nhưng nhiều nhất là được viết trên vỏ cây sậy papyrus. Đây là một loại “giấy” cổ xưa nhất, do vậy ngôn ngữ nhiều nước trên thế giới, giấy được gọi là papes, papier ...Năm 1822, một nhà ngôn ngữ học người Pháp là Sampôliông Champollion đã tìm cách đọc được thứ chữ này. học Những tác phẩm tiêu biểu còn lại như Truyện hai anh em, Nói Thật và Nói Láo, Đối thoại của một người thất vọng với linh hồn của mình , Người nông phu biết nói những điều hay ... Văn học Ai Cập trong suốt chiều dài lịch sử nhiều thế kỷ của mình là một sự thống nhất về ngôn ngữ nhưng đa dạng về chữ viết. Người ta viết bằng ngôn ngữ Ai Cập trong một thời kỳ vô cùng dài không ít hơn ba thiên niên kỷ rưỡi, và hoàn toàn đương nhiên ngôn ngữ đó phải biến đổi. Các tác phẩm thành văn đã minh chứng rằng sau ba mươi lăm thế kỷ tồn tại, tiếng Ai Cập đã trải qua một số giai đoạn phát triển, gắn liền với truyền thống bắt nguồn từ thời cổ đại 4 và gắn với sự phân kỳ lịch sử của bản thân đất nước Ai Cập đã được khoa học thiết lập. Những giai đoạn đó là I. Ngôn ngữ cổ Ai Cập thời đại Cổ vương quốc thế kỷ XXX – XXII trước công nguyên; II. Ngôn ngữ cổ điển trung Ai Cập thời đại Trung vương quốc thế kỷ XXII – XVI trước công nguyên; III. Ngôn ngữ tân Ai Cập thời đại Tân vương quốc thế kỷ XVI – VIII trước công nguyên; IV. Ngôn ngữ demotic bình dân thế kỷ VIII trước công nguyên – thế kỷ III sau công nguyên; V. Ngôn ngữ Coptic từ thế kỷ III sau công nguyên. Văn học Ai Cập là một phần của văn hóa Ai Cập và cùng mất đi với nó, đã trải qua một cuộc sống lâu hơn nhà nước độc lập Ai Cập. Ai Cập vào năm 332 trước công nguyên đã thần phục Alexander Macedonia và đến năm 30 trước công nguyên trở thành một tỉnh của đế quốc La Mã. Văn hóa đặc sắc của Ai Cập tiếp tục sống và phát triển trong những điều kiện chính trị mới. Nhưng, mặc dù như vậy và mặc dù từ lâu việc nghiên cứu văn học Ai Cập đã trở thành một lĩnh vực độc lập trong bộ môn Ai Cập học, các chuyên gia khi phân kỳ lịch sử của nó vẫn thích dựa vào những đặc điểm bên ngoài và phát xuất từ sự phân kỳ lịch sử ngôn ngữ và lịch sử đất nước mà chúng ta đã làm quen để phân biệt các nền văn học Cổ vương quốc, Trung vương quốc, Tân vương quốc và văn học demotic. Sự phân kỳ văn học Ai Cập được thừa nhận như vậy là bất đắc dĩ, chủ yếu do tình hình tư liệu và việc không thể theo dõi liên tục từng bước sự phát triển của bản thân tiến trình văn học. Văn học cổ đại Ai Cập, cũng như mọi nền văn học khác, gắn liền với đời sống xã hội và với hệ tư tưởng của xã hội đó. Và bởi vì ở Ai Cập cổ đại, tôn giáo là hình thức tư tưởng chủ đạo, nên không có gì lạ rằng văn học Ai Cập chịu ảnh hưởng chủ yếu của tôn giáo, và nhiều tác phẩm của nền văn học này đã thấm nhuần thế giới quan tôn giáo, biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên không nên từ đó mà cho rằng văn học Ai Cập chỉ là những văn bản tôn giáo hay thần thoại. Ngược lại, nó rất phong phú đa dạng về thể loại. Bên cạnh những truyện cổ dân gian được tái chế như Papyrus Westcar, Truyện về hai anh em, Truyện chàng hoàng tử phải chết, …, trong văn học Ai Cập còn có những tác phẩm mô tả cuộc sống hiện thực các truyện Sinuhe và Un- Amon, những văn bia của các vua và quan lại mang tính lịch sử, những tác phẩm mang nội dung tôn giáo tụng ca thần linh và triết học “Bài ca của người chơi đàn hạc”, “Cuộc trò chuyện của một người tuyệt vọng với linh 5 hồn”; những truyện thần thoại “Cuộc chiến giữa Horus và Seth”, các truyện ngụ ngôn, thơ tình yêu. Người Ai Cập đã biết đến trình diễn sân khấu, không chỉ dưới hình thức kịch tôn giáo, mà cả dưới hình thức kịch thế tục ở một chừng mực nào đó. Và sau rốt, tồn tại một bộ phận lớn văn học giáo huấn dưới hình thức được gọi là các “châm ngôn”, chứa đựng những lời răn dạy đạo lý và những quy định hành xử trong xã hội. Tóm lại, văn học Ai Cập chứng minh rõ ràng rằng xã hội Ai Cập thời cổ đại đã sống một cuộc sống tinh thần phong phú và đa diện. Những thư tịch từ thời đại cổ xưa còn lại đến nay và được lưu giữ trong các bảo tàng và các bộ sưu tập trên toàn thế giới chỉ là những mảnh di tích nhỏ bé của cả một nền văn học lớn mà tiếc thay đã mãi mãi mất đi. Nhưng chỉ chúng thôi cũng đã tạo ra một bức tranh rực rỡ, phong phú và thú vị lạ thường. Nói về một nền văn học thì không thể không nói đến những người sáng tạo ra nó. Tất cả các văn bản Ai Cập còn truyền lại đến nay đều được người nào đóvào thời gian nào đó sáng tạo nên, hay nói cách khác, đều có tác giả của mình. Tất nhiên ở Ai Cập, cũng như ở những nước khác, văn học dân gian phổ biến rất rộng rãi, nhưng những tác phẩm còn truyền lại đến nay rõ ràng không phải là sản phẩm của sáng tác dân gian trong nghĩa nghiêm ngặt của từ này, thậm chí nếu như chúng là bản ghi lại những câu chuyện truyền miệng. Tuy nhiên, trong phần lớn các văn bản đó không có một chỉ dẫn nào, dù là nhỏ nhất, hay một lời ám chỉ nào về tác giả. giáo Người Ai Cập cổ đại theo đa thần giáo, họ thờ rất nhiều thần. Ban đầu, mỗi vùng thờ mỗi vị thần riêng của mình, chủ yếu là những vị thần tự nhiên. Đến thời kì thống nhất quốc gia, bên cạnh những vị thần riêng của mỗi địa phương còn có các vị thần chung như thần Mặt trời Ra , thần sông Nin Osiris . Người Ai Cập cổ tin rằng con người có hai phần hồn và xác. Khi con người chết đi, linh hồn thoát ra ngoài nhưng có thể một lúc nào đó lại tìm về nơi xác Họ tin rằng như khi bị ngất , hồn thoát ra ngoài tạm thời . Vì vậy những người giàu có tìm mọi cách để giữ gìn thể xác. Kĩ thuật ướp xác vì vậy cũng rất phát triển. Tôn giáo Ai Cập cổ đại bao gồm các niềm tin tôn giáo và nghi thức khác nhau tại Ai Cập cổ đại qua hơn năm, từ thời kỳ Tiền Triều Đại cho đến khi du nhập Kitô giáo trong những thế kỷ đầu Công nguyên. Những niềm tin này tập trung vào thờ cúng các vị thần đại diện cho nhiều khía cạnh, ý tưởng và chức năng quyền lực khác nhau của thiên nhiên, thể hiện qua các nguyên mẫu phức tạp và đa dạng. Vào thời kỳ của triều đại thứ 18, người Ai Cập đã có nâng vị 6 thế một số đơn vị thần như Amun lên hàng đấng sáng tạo vũ trụt với nhiều biểu hiện, tương tự như khái niệm kinh tế cũng được tìm thấy trong đạo Ki-tô niềm tin rằng một Thượng đế có thể tồn tại trong nhiều hơn một người. Những vị thần được tôn thờ với các nghi lễ và cầu nguyện, trong các ngôi đền địa phương và đền thờ gia đình cũng như trong ngôi đền chính thức quản lý bởi các giáo sĩ. Các vị thần khác nhau đã được nổi bật ở giai đoạn khác nhau của lịch sử Ai Cập, và các huyền thoại liên quan đến họ thay đổi theo thời gian, do đó, Ai Cập chưa bao giờ có một hệ thống thứ bậc các vị thần chặt chẽ hay một thần thoại thống nhất. Dù vậy, trong tôn giáo Ai Cập có nhiều niềm tin bao quát. Trong số đó có sự tôn thờ của pharaon - đã giúp thống nhất quốc gia về mặt chính trị, và niềm tin phức tạp về một thế giới bên kia, mà đã dẫn đến việc gia tăng tục chon cất công phu của người Ai Cập. Các vị thần Truyền thuyết về các vị thần của Ai Cập cổ đại khá đặc biệt. Thần Mặt Trời, hay Thần Thái Dương là Ra, sinh ra hai vị thần, nam thần Shu - thần không khí và nữ thần Tefnut, thần hơi nước. Shu và Tefnut cưới nhau rồi sinh ra đôi thần trai gái là Nut và Geb. Nut và Geb cũng yêu nhau, nhưng bị cha cấm hẹn hò vì vậy họ phải lén lút với nhau. Một hôm, thần Shu bắt gặp, ném Nút lên trời, đạp Gép xuống sâu trong mặt đất. Từ đó, Nút là nữ thần bầu trời, Gép là nam thần mặt đất. Nhưng nhờ có thần trí tuệ Thot, cả hai cũng được cưới nhau và bên nhau chỉ trong năm ngày thần Shu làm cho lịch thành 360 ngày, thần Thot thắng 72 ván cờ với thần Shu nên đã làm cho lịch chuyển thành 365 ngày nhờ ánh sáng của thần Thái dương. Nút sinh ra năm vị thần là Osiris, Isis, Seth, Nephthis và Haeroit. Cả năm vị thần đều là những vị thần quan trọng trong thế giới Ai Cập, được ghi chép lại trong cuốn "Book of The Dead" nghĩa là Sách của Người Chết. Thần Ra Thần Ra là Thần Mặt trời của Ai Cập. Trong Sách của Người Chết có miêu tả thần Ra vào buổi sáng biến thành một em bé, buổi trưa trở thành một thanh niên lực lưỡng và về chiều tối, thần trở thành một ông cụ. Truyền thuyết kể lại rằng, Isis, vợ của Osiris, ghen tỵ với thần Ra, nàng liền nặn một con rắn bằng đất ở chỗ thần Ra vẫn thường đi lại. Khi thần Ra tới, nàng núp sau một tảng đá, hóa phép cho con rắn thức dậy, con rắn liền cắn thần Ra một nhát chí mạng. Thế là, mọi quyền của thần Ra đều thuộc về Isis. Osiris và Seth Osiris cưới Isis rồi Isis sinh ra Horus. Osiris được nối ngôi Thần thái dương, trở thành thần nông nghiệp, thần sinh đẻ và thần hạnh phúc đem hạnh phúc 7 cho nhân loại, cải tạo nông nghiệp, dạy dân trồng nho, làm rượu, trồng ngũ cốc và chăn gia súc. Osiris cũng dạy con người cách xây đền thờ, xây kim tự tháp nguy nga, tráng lệ. Osiris đi đâu cũng được mọi người kính trọng và yêu quý. Tuy nhiên, thần Seth, em trai của thần Osiris, lại ghẻ lạnh và căm ghét Osiris chỉ vì anh được nối ngôi, được mọi người kính trọng. Rồi Seth đã nghĩ ra kế hiểm độc đó là giết chết anh trai bằng cách dụ Orisis nằm vào quan tài rồi đóng đinh và thả xuống biển. Sau đó, Seth chiếm đoạt ngôi vị của anh trai và làm bao điều bạo tàn, ác độc khiến cho dân chúng và các vị thần khác bất bình. Isis biết chuyện, đau khổ vô cùng và tìm mọi cách để tìm thân thể Osiris. Sau khi tìm thấy thân thể chồng, Isis kể lại cho con trai Horus nghe. Từ đó, Horus nung nấu ý định giết Seth, trả thù cha. Câu chuyện về âm phủ và thế giới bên kia Người Ai Cập tin rằng ở thế giới bên kia, các vị thần chờ những người đã mất ở đó để đón lên thiên đàng hoặc đày xuống địa ngục. Khi qua thiên đường, phải gặp thần Anubis, Anubis dẫn người chết đi đến chiếc cân trái tim, để cân xem người đó ác hay tốt. Nếu anh ta nói dối, chứng tỏ anh ta là người xấu, sẽ bị Ammit, con quái vật hình cá sấu ăn trái tim và bị đày đi địa ngục. Còn nếu trả lời đúng, anh ta sẽ được tiếp đón hậu hĩnh bởi thần Osiris, thần âm phủ. Người Ai Cập rất mê tín nên họ chả dám làm gì sai trái vì câu chuyện trên. Nhưng không phải tất cả đều làm điều tốt. Và tất nhiên là xã hội bao giờ mả chả thế! trúc và điêu khắc Người Ai Cập cổ đại đã xây dựng rất nhiều đền đài, cung điện, nhưng nổi bật nhất phải kể đến là các kim tự tháp hùng vĩ, vĩnh cửu. Người thiết kế ra Kim tự tháp đầu tiên để làm nơi yên nghỉ cho các pharaon là Imhotép. Người ta đã phát hiện ra khoảng 70 Kim tự tháp lớn nhỏ khác nhau trong đó có 3 Kim tự tháp nổi tiếng nằm ở gần thủ đô Cairo. Lớn nhất là Kim tự tháp Kêôp Kheops cao tới 146m, đáy hinh vuông , mỗi cạnh tới 230m. Đã mấy ngàn năm qua các Kim tự tháp vẫn sừng sững với thời gian. Vì vậy người Ai Cập có câu “ Tất cả mọi vật đều sợ thời gian, nhưng riêng thời gian phải nghiêng mình trước Kim tự tháp”. Ngoài việc xây dựng các lăng mộ, người Ai Cập cổ còn để lại ấn tượng cho đời sau qua các công trình điêu khắc. Đặc biệt nhất là tượng Nhân Sư Sphinx hùng vĩ ở gần Kim tự tháp Khephren. Bức tượng mình sư tử với gương mặt Khephren cao hơn 20m này có lẽ muốn thể hiện Khephren là chúa tể với trí khôn của con người và sức mạnh của sư tử. tự tháp 8 -Kim tự tháp đầu tiên được xây dựng từ thời vua Giêde thuộc vương triều III Cổ vương quốc.Đây là một ngôi tháp gồm 6 bậc, cao 60 m,đáy hình vuông,mỗi cạnh đáy là 71 mộ đặt quan tài nằm sâu dưới mặt đất 28m,mỗi cạnh quanh tháp Giêde có đền thờ và mộ những thành viên trong gia đình và những người thân cận. -Trong số kim tự tháp ở Ai Cập,cao lớn nhất,tiêu biểu nhất là kim tự tháp Kêôp +Kim tự tháp Kêôp xây thành hình tháp chóp,có đáy là hình vuông mỗi cạnh 230 m,bốn mặt là những hình tam giác ngoảnh về bốn hướng Đông,Tây,Nam, chóp nhọn cao 146,6 tích của kim tự tháp 2,5 triệu m3 đá và có trọng lượng khoảng 6,5 triệu tấn . +Toàn bộ kim tự tháp được xây dựng bằng những tảng đá vôi mài nhẵn,mỗi tảng nặng 2,5 tấn,có tảng nặng 30 tấn. +Để xây dựng kim tự tháp người ta đã dùng đến tảng đá vôi với một khối lượng là m3 . +Một số nhà Ai Cập học đã lấy chiểu dài các cạnh cuả kim tự tháp Kêôp chia cho số ngày trong một nămđã thu được một đơn vị đo chiều dài bằng 0,635 m và họ đặt tên là thước đo kim tự tháp ,đơn vị độ dài đung1 bằng 1/10 triệu bán kinh trái đất ,đúng bằng 1/tỉ khoảng cách giữa trái đất và mặt trời +Phương pháp xây dựng kim tự tháp là ghép những tảng đá mài nhẵn với nhau chứ không dùng vữa,thế mà các mạch ghép kín đến mức một lá kim loại mỏng cũng không thể lách qua được. +Kim tự tháp không phải là khối đá đặc mà bên bên trong có những đường hầm ,lăng mộ ,phòng chứa quan tài…Cửa vào hướng về phía chứa quan tài của pharaong Kêôp trên độ cao 42,28 m so với mặt nền ,chiều dài 10,47 m,chiều ngang 5,23 m… Giữa phòng có một quan tài bằng đá hoa trang trí rất đẹp nhưng đã bị mất nắp có chiều dài 2,29 m,chiều ngang 0,99m ,chiều cao không kể nắp là 1,05m. +Ở phía Bắc của kim tự tháp cách mặt đất 13 m có một cái cửa thông với hầm mộ,kim tự tháp Kêôp có hai hầm mộmột hầm mộ ở sâu 30 m dưới lòng đất và một hầm mộ nằm ở giửa kim tự tháp cách mặt đất 40 ta cho rằng theo thiết kế ban đầu ,hầm mộ ở sâu dưới đất,nhưng khi đã làm xong Kêôp thay đổi ý kiến bắt phải xây ở trên cao. +Các nhà Ai Cập đã làm một thí nghiệm nhỏ làđem những đồng tiền bằng kim loại đã bị hoen rỉ vào trong tháp ;sau hơn một tháng ,những đồng tiền đó trở nên sáng cốc sữa tươi,một cốc để ở bên ngoài,một cốc đem vào trong một thời gian,cốc sữa bên ngoài bị biến chất ,còn cốc sữa bên 9 trong vẫn không thay đổi mùi vị ,màu hai cây cà chua ,một cây trồng ở ngoài trời ,một cây đem trồng ở trong tháp,cây bên ngoài chưa ra hoa kết trái thì cây bên trong đã ra hoa kết trái. +Để giải thích những hiên tượng kì lạ trên,các nhà bác học đã cho rằng các cửa và lỗ thông hơi của kim tự tháp đều hướng về phía Bắc,đã hấp thụ được các loại sóng vũ trụ”nào đó ,do đó đã ảnh hưởng đến các đồ vật ,cây cỏ,cơ thể và cả tinh thần của con người trong kim tự tháp. +Việc xây dựng kim tự tháp đã huy động biết bao kiến trúc sư ,hàng vạn thợ thủ công,nông dân và thợ thủ công,nô lệ trong vòng ba chục năm trời .Tốn nhiều công sức và tiền bạc nhưng nó đã đánh dấu một nền văn hóa rực rỡ của nhân dân Ai Cập cổ đại. Xphanh -Nghệ thuật điêu khắc của Ai Cập cổ đại có những thành tựu lớn biểu hiện ở hai mặt tượng và phù điêu. -Trong các tượng của Ai Cập cổ đại tiêu biểu nhất là tượng bán thân hoàng hậu Nêfectiti ,vợ của vua Ichnatôn . -Tượng Xphanh là những bức tượng mình sư tử đầu người hoặc bức tượng này thường được đặt trước các cổng đền miếu ,có những tượng lên đến 500 tượng như vậy . -Trong số những tượng Xphanh của Ai Cập cổ đại ,tiêu biểu nhất là tượng Xphanh,là tượng của vua Kêphen , ở gần kim tự tháp Kêphen ở này cao dài 55 m,cao 20 m,chỉ riêng cái tai đã dài 2 này được tạc vào cuối thế kỉ XXIX TCN. học tự nhiên văn học -Được nghiên cứu từ rất sớm với những công cụ thô sơ với như dây dọi ,mảnh ván cá khe hở -Họ vẽ hình các thiên thể lên các trẩn các đền miếu .biết mười hai cung hoàng đạo ,biết được các hệ hành tinhkim, mộc, thủy ,hỏa ,thổ. -Để đo được thời gian,từ thời cổ vương quốc người AI Cập phát minh ra cái nhật khuê .Nhưng dụng cụ này chỉ xem được thời gian ban ngày và khi có nắng . -Đến thời vương triều XVII, người Ai Cập lại phát minh ra đồng hồ nước ,nhìn vào mực nước người ta có thể biết được thời gian -Thảnh tựu lớn nhất trong lĩnh vực thiên văn của Ai Cập cổ đại là việc đặt ra lịch 10 +Lịch Ai Cập được đăt ra dựa trên kết quả quan sát tinh tú và quy luật dâng nước của sông nhận thấy rằng buổi sáng sớm khi sao Lang bắt đầu mọc cũng là lúc nước sông Nin bắt đầu nữa,khoảng cách giữa hai lần mọc của sao Lang là 365 lấy khoảng thời gian ấy là một năm được chia làm 12 tháng ,mỗi tháng có 30 ngày,5 ngày còn thừa để cuồi năm ăn mới của Ai Cập bắt đầu từ ngày nước sông Nin bắt đầu dângbắt đầu tháng 7 dương lịch.Một năm được chia là 3 mùa,mỗi mùa 4 là mùa nước dâng,mùa Ngũ cốc và mùa thu hoạch. Như vậy,lịch của Ai Cập cổ đại là một thứ lịch được phát minh rất sớmvào khoảng thiên niên kỷ VI TCN và tương đối chính xác và thuận nhiên,lịch sử Ai Cập cổ đại so với lịch mặt trời còn thiếu mất ¼ lúc bấy giờ,họ chưa biết đặt ra năm nhuận. học Nhu cầu đo đạc lại ruộng đất ,làm thủy lợi,xây dựng đền miếu,kim tự tháp,tính toán thu nhập …là những nhu cầu thúc đẩy toán học ra đời. -Thiên niên kỉ thứ III là thời kì xuất hiện từng bước quan niệm trừu tượng về số của Ai Cập .Sang đầu thiên niên kỉ thứ II ,TCN ,người Ai Cập đã phát triển thành công hệ đếm của mình. Người Ai Cập đã biết dùng hệ thập phân .Nhờ có hệ đếm,người Ai Cập đã biết làm các phép cộng ,trừ còn nhân và chia thì thực hiện bằng cách cộng hoặc trừ nhiều lần .Tri thức đại số của người Ai Cập đã đạt tới việc giải phương trình bậc nhất . -Về hình họchọ biết tính diện tích hình tam giác ,tứ giác ,biết rằng bình phương cạnh huyền bằng tổng bình phương hai cạnh góc Ai Cập đã biết tìm được số Pi=3,14 học Người Ai Cập cổ đã chia ra các chuyên khoa như khoa nội, ngoại , mắt, răng, dạ dày ... Họ đã biết giải phẫu và chữa bệnh bằng thảo mộc. B .AI CẬP HIỆN NAY Ai Cậpcó tên chính thức là Cộng hòa Ả Rập Ai Cập , là một nước cộng hòa nằm ở phía bắc châu Phi, Trung Đông và tây nam châu Á. 1. Kinh tế Tổng quan tình hình kinh tế Ai Cập là nước nông nghiệp, công nghiệp tương đối phát triển ở Châu Phi. Từ năm 1991, được sự giúp đỡ của Quỹ Tiền tệ quốc tế và Ngân hàng thế giới, Ai Cập bắt đầu cải cách kinh tế trên diện rộng. Các chương trình đẩy mạnh tư nhân hóa, thu hút đầu tư nước ngoài, tự do hóa thương mại, xúc tiến xuất khẩu 11 đã đem lại những kết quả đáng khích lệ. Trong thập kỷ 90, nền kinh tế Ai Cập tăng trưởng với tốc độ bình quân 4,4%/năm, giai đoạn 1996-2000 đạt 5,4%/năm, năm 2007 đạt 7,1%. Kinh tế Ai Cập phụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp, môi giới trung gian, xuất khẩu dầu mỏ và du lịch. Dân số tăng trưởng nhanh chóng đông nhất thế giới Ả rập, hạn chế về đất canh tác cùng sự phụ thuộc vào sông Nile khiến các nguồn tài nguyên và kinh tế nước này phải chịu nhiều sức ép lớn. Tuy nhiên, các điều kiện kinh tế đang bắt đầu được cải thiện nhiều sau một giai đoạn trì trệ nhờ việc tự do hóa các chính sách kinh tế của chính phủ, cũng như tăng nguồn thu từ du lịch và sự bùng nổ của thị trường chứng khoán. Trong bản báo cáo hàng năm của mình, IMF đã xếp hạng Ai Cập là một trong những nước dẫn đầu thế giới về thực hiện cải cách kinh tế. Là thành viên của WTO, Chính phủ Ai Cập có những chính sách cải thiện môi trường đầu tư, thực hiện các cam kết mở cửa thị trường của thành viên WTO như giảm thuế nhập khẩu, bãi bỏ hạn ngạch dệt may bắt đầu từ 01/01/2005, khuyến khích xuất khẩu, thành lập các khu công nghiệp đủ điều kiện QIZ, ổn định đồng bảng Ai Cập, cải cách thủ tục hải quan và hệ thống ngân hàng...Đồng thời, Chính phủ Ai Cập cũng đang thực hiện chính sách đối ngoại mở rộng nhằm nâng cao uy tín của Ai Cập trong khu vực và trên thế giới. Năm 2008, lạm phát ở Ai Cập đang ở mức cao kỷ lục. Theo Cơ quan Thống kê quốc gia CAPMAS của Ai Cập, lạm phát ở nước này đã tăng lên mức cao kỷ lục 23,1% trong tháng 7/2008, do giá lương thực tăng mạnh. Việc chỉ số giá tiêu dùng trong nước tăng mạnh chủ yếu là do giá lương thực tăng 32,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Con số lạm phát chính thức được công bố hai tháng một lần, với lạm phát trong tháng 5/08 ở mức 21,1% và tháng 3/08 ở mức 15,8%. Lạm phát của Ai Cập dường như đã được kiểm soát cho tới đầu năm nay, nhưng bắt đầu tăng mạnh trong tháng 3/08 do giá lương thực tăng mạnh trên thị trường thế giới, đặc biệt là lúa mì - mặt hàng mà Ai Cập là nước nhập khẩu chủ yếu. Trong báo cáo về tình hình lạm phát trong tháng 7/08, CAPMAS đã nêu giá tăng đáng kể nhất là giá bơ tăng 71,1%, giá các sản phẩm bơ sữa tăng 38,5%, gia cầm tăng 39,1% và mì ống tăng 32,8%. Để kìm chế lạm phát, Ngân hàng Trung ương Ai Cập tăng lãi suất tiền gửi thêm 0,5% lên 11% và lãi suất cho vay lên 13%. Tuy nhiên biện pháp này cũng có thể gây ảnh hưởng tiêu cực lên tăng trưởng kinh tế của Ai Cập - dự báo sẽ tăng trưởng 7% trong năm 2008. 12 Các ngành kinh tế trọng điểm Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP của Ai Cập đã giảm từ 20% vào cuối thập kỷ 80 xuống 13,8% vào năm 2007. Các chương trình nông nghiệp của Chính phủ như đẩy mạnh khai hoang, phát triển tưới tiêu... đã làm tăng sản lượng nông nghiệp với tốc độ bình quân 4%/năm trong những năm gần đây. Công nghiệp Ai Cập tăng trưởng bình quân 4,9%/năm trong thập kỷ 90, chiếm tỷ trọng 41,1% GDP năm 2007. Công nghiệp khai khoáng của Ai Cập rất phát triển. Khai thác và xuất khẩu dầu mỏ giữ vai trò then chốt trong nền kinh tế Ai Cập suốt hơn 20 năm qua. Tuy nhiên, do trữ lượng ngày càng sụt giảm, Ai Cập đã bắt đầu giảm dần nhịp độ khai thác dầu. Ngành dệt may của Ai Cập cũng khá phát triển và là lĩnh vực công nghiệp sử dụng nhiều nhân công nhất. Ngoài ra, Ai Cập còn phát triển các ngành cơ khí, luyện thép, xi măng, hóa chất, dược phẩm, lắp ráp xe hơi... Lĩnh vực dịch vụ của Ai Cập đóng góp 45,1% GDP của Ai Cập trong năm 2007. Đây là một tỷ lệ khá cao so với các nước đang phát triển khác. Các ngành dịch vụ quan trọng là du lịch, ngân hàng, khai thác kênh đào Suez... Du lịch là nguồn thu ngoại tệ lớn nhất đất nước. Nguồn thu từ kênh đào Suez ổn định trong những năm qua khoảng 1,8 tỷ USD/năm và dự kiến sẽ không tăng do nhu cầu sử dụng đã bão hòa. 2. Thương mại Ai Cập có nền ngoại thương lớn nhất khu vực Bắc Phi. Ngoại thương Ai Cập phát triển mạnh trong thập kỷ 90, nhưng nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu làm cho tình trạng thâm hụt thương mại ngày càng trầm trọng. Cuối những năm 90, thâm hụt thương mại đã vượt ngưỡng 10 tỷ USD. Tuy nhiên, những năm gần đây, tình trạng thâm hụt này có dấu hiệu được cải thiện. Trong cơ cấu hàng xuất nhập khẩu của Ai Cập, nhóm hàng quan trọng nhất là các sản phẩm chế biến, chế tạo. Các sản phẩm hóa dầu và dầu thô luôn là những mặt hàng xuất khẩu chính của Ai Cập. Bông cũng là một thế mạnh xuất khẩu của Ai Cập nhờ chất lượng cao. Ngoài ra, Ai Cập đang cố gắng đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may, giày dép, các sản phẩm chế tạo... Một số mặt hàng mà Ai Cập phải nhập khẩu với khối lượng lớn là các loại máy móc thiết bị, các sản phẩm sắt thép, lúa mì, ngô, đồ nhựa, đồ gỗ... Về cơ cấu bạn hàng, EU là đối tác lớn nhất, Mỹ là bạn hàng lớn thứ hai. Hiện nay, buôn bán với Châu Á chiếm khoảng 14-16% ngoại thương của Ai Cập. Tình hình xuất nhập khẩu của Ai Cập giai đoạn 2001-2005 13 Nguồn Cơ quan Xúc tiến Đầu tư nước ngoài của Ai Cập - GAFI Tình hình xuất nhập khẩu của Ai Cập năm 2007 như sau Kim ngạch xuất khẩu 24,45 tỷ USD Các mặt hàng xuất khẩu chính dầu thô và các sản phẩm dầu, hàng dệt, bông, kim loại, hoá chất. Đối tác xuất khẩu Mỹ 11,7%, Ý 9,7 %, Tây Ban Nha 7,8 %, Syria 5,7%, Ả Rập 5%, Anh 4,3% Kim ngạch nhập khẩu 44,95 tỷ USD Các mặt hàng nhập khẩu chính máy móc thiết bị, hoá chất, thực phẩm, sản phẩm gỗ Đối tác nhập khẩu Mỹ 11,7 %; Trung Quốc 9,7%; Ý 6,5 % Đức 6,4%, Ả Rập 4,8%. 3. Đầu tư Thu hút đầu tư nước ngoài luôn được Chính phủ Ai Cập quan tâm. Luật Đầu tư năm 1997 có nhiều ưu đãi như cho phép chủ đầu tư nước ngoài sở hữu 100% vốn; bảo đảm quyền chuyển thu nhập và vốn về nước; bảo đảm vốn đầu tư không bị sung công, tịch thu và quốc hữu hóa; bảo đảm quyền sở hữu đất lên đến 4000 m2, quyền mở tài khoản ngoại tệ tại ngân hàng, quyền được đối xử bình đẳng... Luật đầu tư ban hành các chính sách khuyến khích khác nhau đối với cá dự án đầu tư trong nước và đầu tư vào các khu kinh tế tự do. Các cơ hội đầu tư tại Ai Cập rất rộng, từ ngành công nghiệp gas, dầu mỏ, du lịch, công nghệ truyền thông, bất động sản, giao thông vận tải... đến các ngành công nghiệp định hướng xuất khẩu. Trong các năm 1997-2000, vốn FDI vào Ai Cập đạt trên 1 tỷ USD/năm. Do những khó khăn kinh tế trong nước cũng như tình hình khu vực và thế giới bất lợi, vốn FDI năm 2001 chỉ còn 509 triệu USD. Mỹ là nước đầu tư lớn nhất, 14 tiếp theo là Anh, Đức, Pháp, Nhật Bản. Đầu tư ra nước ngoài tập trung vào các lĩnh vực năng lượng, công nghiệp chế tạo, ngân hàng... Trong những năm gần đây, Ai Cập đã có những bước tiến ấn tượng trong việc cải cách các chính sách thu hút đầu tư, tuy nhiên vẫn còn nhiều rào cản đáng kể đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Chương trình cải cách đầu tư đầy tham vọng của Ai Cập bắt đầu kể từ năm 2004. Trong năm 2004, 2/3 vốn FDI được tập trung trong ngành công nghiệp dầu mỏ và khí gas. Tuy nhiên, đến năm 2006, 2/3 trong tổng luồng vốn này đã chuyển sang khu vực sản xuất và dịch vụ, chỉ còn 1/3 cho ngành công nghiệp dầu mỏ. Các rào cản đối với đầu tư nước ngoài vào Ai Cập đã được nới lỏng. Các thủ tục hải quan được cải tiến, một cơ quan chuyên trách quản lý và xúc tiến đầu tư nước ngoài vào Ai Cập đã được thành lập vào năm 2004. Hệ thống thuế cũng được cải tiện, trong đó thuế thu nhập doanh nghiệp giảm từ mức 32%- 40% xuống còn 20%, hơn 3000 mặt hàng nhập khẩu được giảm thuế. Đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực sản xuất được tự do hóa hoàn toàn, ngoại trừ các ngành liên quan đến quốc phòng. Tỷ lệ tham gia của vốn đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực dịch vụ tài chính và dịch vụ viễn thông do tư nhân sở hữu được cho phép tới 100%. Việc đăng ký tài sản sở hữu cũng nhanh hơn theo mô hình "một cửa" và với chi phí thấp hơn. Thời gian đăng ký trung bình đã giảm từ 193 ngày xuống chỉ còn 1 tuần. Tuy nhiên đầu tư nước ngoài vẫn bị hạn chế trong nhiều lĩnh vực như xây dựng, điện và giao thông vận tải. Trong lĩnh vực xây dựng, nhà đầu tư nước ngoài phải thành lập công ty liên doanh trong đó phía đối tác nước ngoài chỉ được giới hạn vốn góp không quá 49%. Một số ngành cũng hạn chế số lượng lao động người nước ngoài được phép tuyển dịch. Chẳng hạn, các doanh nghiệp nước ngoài có thể thành lập văn phòng tư vấn pháp luật ở Ai Cập để phục vụ các khách hàng nước ngoài, tuy nhiên người của văn phòng này không được đại diện cho khách hàng của họ tại tòa án ở Ai Cập. Theo bản báo cáo chính sách đầu tư năm 2007 của Ai Cập, luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Cập trong giai đoạn 2001-2006 đã tăng gấp 12 lần. Trong 9 tháng đầu năm 2007, đầu tư nước ngoài vào Ai Cập đạt 9 tỷ USD, từ mức 0,5 tỷ trong năm 2001, 0,7 tỷ USD vào năm 2002, tăng hơn cả mức 6,1 tỷ USD của cả năm 2006. Ước tính trong năm 2007, đầu tư trực tiếp nước ngoài 15 vào Ai Cập đạt trên 10 tỷ USD. Tính đến năm 2007, tổng vốn đầu tư nước ngoài hiện có tại Ai Cập là 48,46 tỷ USD. Tình hình đầu tư nước ngoài vào Ai Cập giai đoạn 2000-2006 và Quý I năm 2007 Nguồn Cơ quan Xúc tiến Đầu tư nước ngoài của Ai Cập - GAFI Trong số các nhà đầu tư EU, Anh là đối tác đầu tư lớn nhất ở Ai Cập. Trong năm 2006-2007, Anh vẫn tiếp tục đầu tư mạnh vào Ai Cập. Một số công ty lớn ở Anh đã có mặt tại Ai Cập bao gồm British Gas, British Petroleum BP... Dự kiến đầu tư nước ngoài vào Ai Cập sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới khi các doanh nghiệp nhà nước ở Ai Cập dần được tư nhân hóa, chủ yếu trong các lĩnh vực như bảo hiểm, giao nhận hàng hóa bằng container và bốc dỡ hàng hóa. Năm 2001, Ai Cập đầu tư ra nước ngoài 27,3 triệu USD, tập trung ở một số nước láng giềng như Các tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất UAE, Kenya... Tính đến cuối năm 2007, tổng vốn đầu tư của Ai Cập ra nước ngoài hiện là 1,295 tỷ USD.. 4. Cơ sở hạ tầng kinh tế Số liệu năm 2007 Nguồn CIA Factbook - Truyền thông - thông tin Số thuê bao điện thoại triệu Số thuê bao Internet 8,62 triệu Số thuê bao di động triệu Giao thông - Vận tải Đường sắt 5,063 km 16 Đường thuỷ3,500 km Đường cao tốc 64,000 km Đường ống dẫn gas 6,115 km ; dẫn dầu 5,032 km Cảng hàng không 87 Bến cảng, kho bãi Alexandria, Al Ghardaqah, Aswan, Asyut, Bur Safajah, Damietta, Marsa Matruh, Port Said, Suez. 5. Một số chỉ số kinh tế thương mại và đầu tư cơ bản Số liệu năm 2007 GDP thực tế 127,9 tỷ USD GDP bình quân đầu người USD Tốc độ tăng trưởng kinh tế 7,1% GDP đóng góp theo ngành nông nghiệp 13,8%, công nghiệp 38,1%, dịch vụ 48% Tỷ lệ lạm phát 9,5% Tỷ lệ thất nghiệp 9,1% Lực lượng lao động 22,1 triệu người Thu chi ngân sách Thu 35,05 tỷ USD, Chi 44,83 tỷ USD Các sản phẩm nông nghiệp chủ đạo bông, gạo, ngô, lúa mỳ, đậu, rau quả, gia súc Các sản phẩm công nghiệp chủ đạo thực phẩm, hàng dệt may, hoá chất, dược phẩm, vật liệu xây dựng, sản phẩm công nghiệp nhẹ Tốc độ phát triển sản xuất công nghiệp 7,5% Nợ công of GDP Nợ nước ngoài 29,2 tỷ USD Dự trữ ngoại hối và vàng 31,37 tỷ USD Tổng số vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào Ai Cập hiện thời 48,46 tỷ USD Tổng số vốn đầu tư trực tiếp từ Ai Cập ra nước ngoài hiện thời 1,295 tỷ USD. hệ quốc tế Những năm qua, Chính phủ Ai Cập đã có nhiều nỗ lực hợp tác với các nước và khu vực trên thế giới. Tháng 6/2001, Ai Cập đã ký Hiệp định hợp tác song phương với EU, trong khuôn khổ chương trình hợp tác EU - Địa Trung Hải MEDA. Tháng 6/004, Thỏa thuận hợp tác EU-Ai Cập bắt đầu có hiệu lực. Thỏa thuận bao gồm những điều khoản tạo thuận lợi cho thương mại tự do giữa EU và Ai Cập. Thỏa thuận cũng bao gồm hợp tác trên nhiều lĩnh vực như đối thoại chính trị 17 định kỳ đều đặn về những vấn đề liên quan đến quyền con người, các quy định của luật dân chủ. EU đã hoàn tất đàm phán với Ai Cập về Kế hoạch Hành động về Chính sách Láng giềng EU, đây là bước tiếp theo trong việc phát triển quan hệ giữa EU với Ai Cập. Ai Cập luôn chủ trương đẩy mạnh quan hệ trên mọi lĩnh vực với Mỹ. Ai Cập đã tranh thủ được từ Mỹ nguồn viện trợ, vốn vay và đầu tư quan trọng. Mỹ hiện là đối tác thương mại hàng đầu của Ai Cập, với thị phần xuất nhập khẩu chiếm trên 11% trong năm 2007. Ai Cập có quan hệ gần gũi với các nước Ả rập, và có tiếng nói quan trọng trong cộng đồng các quốc gia Ả rập. Tháng 1/1998, Ai Cập cùng các nước thành viên của Liên đoàn Ả rập nhất trí giảm dần tiến tới loại bỏ hoàn toàn thuế quan trong buôn bán giữa các nước thành viên trong giai đoạn 10 năm. Với Châu Phi, quan hệ kinh tế thương mại chủ yếu tập trung vào Khối thị trường chung Đông Nam Phi COMESA mà Ai Cập chính thức gia nhập từ tháng 6/1998. Ai Cập đã giảm thuế suất với các thành viên COMESA tới 90% vào năm 1999 và cam kết loại bỏ thuế suất hoàn toàn với các nước này năm 2004. Quan hệ kinh tế thương mại của Ai Cập với các nước Châu Á trong những năm gần đây 2003-2008 khá phát triển. Đặc biệt, nếu sản phẩm Ai Cập vẫn chưa có nhiều ở các nước Châu Á thì sản phẩm Châu Á đang thâm nhập thị trường nước này ngày càng mạnh. Các bạn hàng Châu Á lớn nhất của Ai Cập là Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc và Trung Quốc. Hiện nay Ai Cập là thành viên của các tổ chức quốc tế và khu vực sau ABEDA, ACCT, AfDB, AFESD, AMF, AU, BSEC quan sát viên, CAEU, COMESA, EBRD, FAO, G-15, G-24, G-77, IAEA, IBRD, ICAO, ICC, ICCt thành viên ký kết, ICRM, IDA, IDB, IFAD, IFC, IFRCS, IHO, ILO, IMF, IMO, IMSO, Interpol, IOC, IOM, IPU, ISO, ITSO, ITU, LAS, MIGA, MINURCAT, MINURSO, MONUC, NAM, OAPEC, OAS quan sát viên, OIC, OIF, OSCE đối tác, PCA, UN, UNAMID, UNCTAD, UNESCO, UNHCR, UNIDO, UNMIL, UNMIS, UNOMIG, UNRWA, UNWTO, UPU, WCO, WFTU, WHO, WIPO, WMO, WTO. 18 165 tài liệu 2011 lượt tải
tiểu luận về nền văn minh trung quốc